Đặc điểm và nguồn gốc một số giống gà phổ biến tại Việt Nam


1. Gà Ri
 

Gà Ri là giống gà địa phương có từ lâu đời trên đất nước ta và được nuôi phổ biến ở khắp mọi miền đất nước. Trong đó, phổ biến nhiều nhất ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ và trung Nam Bộ.

Ngoại hình: Qua nhiều năm, gà Ri bị pha tạp nhiều, sắc lông không đồng nhất, gà mái có màu lông vàng, nâu, nâu nhạt, đen hoặc điểm các đốm đen ở đầu, cánh, cổ và chót đuôi. Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu, nhất là lông cổ và đuôi, nhưng đa số có màu vàng đậm, tía. Đầu thanh đa số mào đơn (95%). Da chân vàng, chân có 2 hàng vây, thịt vàng, vây chân có khi màu đen gọi là chân chì. Gà Ri mọc lông sớm, chỉ hơn 1 tháng con đã đủ lông như gà trưởng thành. Phần lớn gà Ri có màu lông vàng rơm, chân vàng, đầu nhỏ, thanh, có mào đơn . Gà trống có lông màu đỏ tía, cánh và đuôi có lông đen, dáng chắc khỏe, ngực vuông và mào đứng.



Khối lượng: Khối lượng  cơ thể lúc mới nở khoản 28g, khi 1 năm tuổi, con trống nặng 1,8 - 2,5 kg; con mái nặng 1,3 - 1,8 kg.

Gà Ri là giống phát dục sớm: 4- 4,5 tháng đã bắt đầu đẻ. Sản lượng trứng đạt 120 - 150 quả/mái/năm. Nếu nuôi tốt, thực hiện chế độ cai ấp khi có con có thể cho sản lượng 164 - 182 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 40 - 45 g, tỷ lệ trứng có phôi đạt 89 - 90%, tỷ lệ ấp nở  94%.

Ưu điểm nổi bật nhất của gà Ri là gà mọc lông, phát dục sớm, thịt trứng thơm ngon, thích nghi với khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới, ít mẫn cảm đối với bệnh cầu trùng, bạch lỵ, đường hô hấp. Nhưng tầm vóc bé, trứng bé, sản lượng trứng thấp và tính đòi ấp cao. Vì vậy, gà Ri thích hợp với chế độ nuôi quảng canh theo hướng cả thịt và trứng ở từng hộ gia đình. Trong tương lai, khi mà trên đại trà ngành gà nuôi các giống gà cao sản, nuôi thâm canh thì gà Ri sẽ được coi là một đặc sản.
 

2. Gà Hồ

 
Gà có nguồn gốc từ làng Lạc Thổ, Thị trấn Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Sự hình thành và phát triển gà Hồ gắn liền với tập quán cổ truyền, với nền văn hiến vùng quê Kinh Bắc cổ kính. Nơi sản xuất ra tranh Đông Hồ, đã đi vào lịch sử và được lưu truyền cho đến ngày nay. Gà Hồ cũng được nuôi phổ biến ở một số huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh cũ và một số vùng khác ở miền Bắc.

Đặc điểm ngoại hình: Gà có tầm vóc khá to so với các giống gà địa phương khác. Đặc điểm của con trống theo thành ngữ chọn giống của dân địa phương là : Đầu công, mình ốc, cánh võ trai, đuôi nơm (là nơm úp cá, để đạp mái dễ) da bụng, cổ màu đỏ, mào xuýt (mào kép), diều cân ở giữa; quản ngắn, đùi dài (cho thịt đùi nhiều) chân tròn, ngón tách nhau, da vàng, thịt ngon, lông mã lĩnh hay mận chín. Lông gà mái có màu lá chuối hay màu võ nhãn, màu đất thó. Gà trống da vàng, màu lông mận chín hay mận đen, ngực nở, chân cao vừa phải, mào xuýt, thân hình chắc chắn. Khối lượng mới nở 45 g/con, lúc trưởng thành con trống nặng 4,5 - 5,5 kg/con; con mái nặng 3,5 - 4,0 kg/con. Bắt đầu đẻ lúc 185 ngày tuổi. Một năm đẻ 3 - 4 lứa, mỗi lứa đẻ được 10-15 quả trứng. Khối lượng trứng 50-55 g/quả.

Tuổi đẻ của gà Hồ muộn 7,5 - 8 tháng. Sản lượng trứng 55 - 57 quả/năm/mái, khối lượng trứng 55 - 58 g (Theo Hội chăn nuôi Việt nam - 2002). Trong đó, tỷ lệ trứng có phôi là 80%, tỷ lệ ấp nở 70%, tỷ lệ nuôi sống đến 2 tuần tuổi 80% (Theo sử An Ninh và đồng nghiệp - 2003). Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận - 2003 gà có sản lượng trứng đạt 60 quả/mái/năm, tỷ lệ trứng ấp 70 - 80%.

Gà Hồ có thân hình vạm vỡ và là giống gà địa phương có từ lâu đời nên cũng có những ưu điểm của gà địa phương. Thịt, trứng thơm ngon, sức chống chịu với ngoại cảnh tốt, nhưng sản lượng trứng thấp. Do đó, gà Hồ được xếp vào nhóm gà hướng thịt của Việt nam.
 

 

3.  Gà Tàu vàng


Được nuôi phổ biến ở các tỉnh miền Nam và hiện nay, phát triển mạnh ở một số địa phương thuộc địa phận đồng bằng sông Cửu Long, hiện bị pha tạp nhiều.



Gà có lông màu vàng, chân có lông màu đen ở bàn, có khi ở cả ngón, gà mẹ có loại trụi đuôi hoặc cũng có loại đuôi dài.

Khối lượng có thể lúc mới sinh 30g; khi trưởng thành, gà trống nặng 3kg, mái nặng 2kg.

Sản lượng trứng 70 - 90 quả/mái/năm, nặng 45 - 50 g/quả. Trong đó, tỷ lệ trứng có phôi khoảng 85%; tỷ lệ ấp nở khoảng 88%; tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi khoảnglà 95%.
 

4. Gà Mán


Gà Mán là vật nuôi truyền đời của đồng bào Dao, H’Mông, Nùng ở các huyện khác nhau của tỉnh Cao Bằng và một số tỉnh phía Bắc. Gà  có tầm vóc tương đối lớn so với các giống gà nội khác. Khối lượng cơ thể lúc sở sinh 34g, khi 24 tháng tuổi gà trống có thể đạt 4,5 - 5kg, gà mái 3 - 3,5kg.

Đặc điểm ngoại hình nổi bật của gà Mán là có chân màu vàng, trên da có những chấm xanh, màu hoa mơ. Lông màu hoa mơ hoặc nâu thẩm. Con trống trưởng thành  màu đơn rất phát triển, thân dài, ngực rộng và sâu, lông đuôi cong dài. Gà có nhiều màu sắc: xám, vàng, nâu đất. Đặc biệt, hầu hết các con mái trưởng thành (80%) các bộ râu rất phát triển đó là một chùm lông vũ mọc dưới cằm của gà. Chùm lông này phát triển trở thành một đặc điểm ngoại hình đặc trưng của gà Mán để phân biệt với các giống gà khác.



Gà Mán thành thục sinh dục muộn, 200 ngày mới bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên. Sản lượng trứng 48 - 50 quả/mái/năm . Khối lượng trứng 50,34g/quả, trứng có phôi đạt tỷ lệ 95,35%, tỷ lệ nở chiêm 85,66% ( Theo Bùi Hữu Đoàn - 2003 ). Gà Mán có bản năng ấp rất cao và khéo, nuôi con khéo và kéo dài, tầm vóc lớn, nhưng đẻ ít, khả năng tăng đàn chậm. Vì vậy mà gà Mán được nuôi để lấy thịt.
 

5. Gà Đông Tảo


Là giống gà địa phương có nguồn gốc từ thôn Đông Tảo, xã Cấp Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Hiện nay nó được phát triển nhiều ở một số địa phương trong tỉnh Hưng yên, ngoài ra còn được nuôi ở Tỉnh Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam...Gà có ưu điểm: Tầm vóc lớn, khối lượng trứng to; nhưng có nhược điểm xương to, đẻ ít, khả năng tăng đàn chậm, gà con mọc lông chậm;  Đầu to, mào nụ, mắt sâu, chân to xù xì có nhiều hàng vảy, xương to, nhiều thịt nhưng thịt không mịn, da đỏ ở bụng và cổ (gà trống); da màu trắng đục (gà mái ). Lông của con trống có màu mận chín (màu mã lĩnh) chiếm đa số, con mái có hai màu lông điển hình: lông xám xen kẻ đốm đen, nâu (dân địa phương gọi là lá chuối khô), chiếm đa số và lông nõn chuối (màu nõn chuối) chiếm số ít. Nói chung, màu lông gà Đông Tảo cũng ít bị pha tạp như gà Mía và tốc độ mọc lông chậm. Khối lượng cơ thể lúc mới sinh là 33g (Theo sử An Ninh và đồng nghiệp- 2003). Gà thịt lúc 4 tháng tuổi có khối lượng trung bình con trống đạt 2,5 kg, con mái đạt 2 kg. Gà đẻ lúc 4 tháng tuổi con trống trung bình đạt 4,8 kg, con mái 3,5 kg (Theo tài liệu quỹ gen vật nuôi - 2001). Lúc trưởng thành mái nặng 2,5 - 3 kg, trống nặng 3,5 - 4 kg.



Sản lượng trứng trong 10 tháng đẻ 68 quả mái, tỷ lệ có phôi 90%, tỷ lệ trứng ấp nở 68% (Theo tài liệu quỹ gen vật nuôi - 2001), khối lượng trứng 55 - 57 g, tỷ lệ trứng có phôi 88%, tỷ lệ ấp nở 70%, tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi 85% (Theo sử An Ninh và đồng nghiệp - 2003).
 

6. Gà tre


Được nuôi ở các tỉnh Nam Bộ, vóc dáng nhỏ, thịt thơm ngon. Sáu tháng tuổi trống nặng 800 - 850 g, mái nặng 600 - 620g.



Đầu nhỏ, mào hạt đậu, con trống thường có màu vàng ở cổ và đuôi, phần còn lại màu đen, lông dài, lông con mái thường màu xám xen lẫn màu trắng. Sản lượng trứng 50 - 60 quả / mái/ năm, nặng 21 - 22 g; Gà  được dùng làm cảnh và thi chọi ở nhiều nơi trong nước ta
 

7. Gà Rốt - Ri.


Gà Rốt- Ri là một nhóm giống được lai tạo giữa gà Rhode Island kiêm dụng trứng thịt với gà Ri của ta tại Viện chăn nuôi vào những năm 70, năm 1985 được công nhận là nhóm giống.



Gà có lông nâu nhạt, mào đơn, chân vàng. Khối lượng lúc 9 tuần tuổi 660g/con; 19 tuần tuổi 1,5 kg/con; 44 tuần tuổi đạt 1,9 kg/con. Tuổi đẻ trứng đầu là 135 ngày. Khối lượng trứng 49 g/quả. Năng suất trứng 1 năm đạt 180 - 200 quả/mái. Vỏ trứng màu nâu nhạt gần giống màu trứng gà Ri. Giống gà này được nuôi giữ tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương (Từ Liêm, Hà nội), dùng để lai với một số giống gà nội và gà nhập nội (gà thả vườn) tạo ra con lai năng suất cao.
 

8. Gà hướng trứng (gà Leghorn)


Đặc điểm chung: Gà hướng trứng được phổ biến trong nước cũng như trên thế giới bởi chính ở sản lượng trứng cao của nó (trên 250 trứng/năm). Gà có đặc điểm chung là: Tầm vóc nhỏ, bộ lông dày, sít, ép sát vào thân. Mào, tích tai phát triển lớn, chân nhỏ, cao, không có lông. Cơ thể có kết cấu vững chắc, dạng hình thoi hay hình chữ nhật dài. Sinh trưởng chậm nhưng thành thục về tính sớm (20­21 tuần tuổi). Hoạt động sinh dục mạnh, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ ấp nở cao, không còn khả năng ấp bóng, thuộc loại thần kinh linh hoạt). Hiện nay phân thành 2 nhóm gà đẻ trứng đó là gà đẻ trứng vỏ trắng và gà đẻ trứng vỏ màu. Tiêu biểu cho các giống gà hướng trứng là các giống Leghorn (trắng và đỏ), gà trắng Nga, gà Minhorka (Địa Trung Hải).. .điển hình là giống Leghorn.



Gà Leghorn là giống chuyên trứng cao sản nhất thế giới hiện nay. Gà được tạo ra từ giống gà địa phương của Ý (Từ cảng Livor Ý gà chuyển sang Mỹ năm 1835, gà có lông màu trắng, nhỏ con nhưng đẻ trứng tốt). Qua quá trình lai tạo các nhà khoa học Mỹ đã cho giống gà Leghorn ngày nay. Gà Leghorn đã có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ ngành gà công nghiệp thế giới. Nó được nuôi rộng rãi ở hầu khắp các nước, ở các vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Trong sản xuất trứng gà Leghorn luôn chiếm tỷ trọng cao về đầu con và cao nhất về sản lượng trứng.

Đặc điểm ngoại hình: Gà Leghorn có lông trắng toàn thân, và có giống Leghorn màu đỏ. Bộ lông dày, sít, xếp sát vào thân. Cấu trúc cơ thể chắc chắn, bộ xương khoẻ chắc. Mào đơn có 5 khía răng cưa nhỏ, gà mái khi đã đẻ gà thường ngả về một phía. Đầu nhỏ, mắt xanh, lá tai màu trắng xanh là đặc trưng di truyền trội của giống. Cổ dài trung bình, ngực phát triển và hơi thẳng. Bụng và đuôi phát triển, với lông dài, mỏ, da, chân màu vàng.

Sinh trưởng phát dục: Thể trọng gà con 1 ngày tuổi là 39- 40g/con. Thể trọng khi đẻ trứng quả đầu tiên là 1,4-1,6kg. Trưởng thành gà mái nặng 1,7-1,8kg, gà trống là 2,0-2,2kg/con. Là giống thành thục sớm, gà con đủ lông ở tháng thứ nhất, gà mái bắt đầu đẻ lúc 5-5,5 tháng tuổi.

Sản lượng trứng trung bình một gà mái trong năm là 250-280 trứng, trọng lượng trứng 55-60 g/quả. Nhiều nước nuôi tốt gà Leghorn cho 300 trứng/con như Nhật, Canada, Mỹ. Tỷ lệ nở và trứng thụ tinh cao. Vỏ trứng có màu trắng.

Ở Việt Nam gà Leghorn nhập vào lẻ tẻ từ nhiều nước khác nhau nhưng nhiều nhất là từ Cuba từ năm 1974, khi Cuba giúp xây dựng các trung tâm giống gà quốc gia. Ta nhập từ Cuba 2 dòng gà hướng trứng giống Leghorn là X và Y.

Đặc điểm gà dòng X: Thân gọn, thon nhẹ, dài; mỏ, da chân màu vàng; lông màu trắng có ánh vàng; mào đơn 5 khía, to, đỏ tươi. Gà trống mào thẳng đứng, gà mái mào to ngả về bên trái che kín mắt. Lá tai màu trắng xanh. Tính tình nhanh nhẹn, ưa hoạt động. Gà dòng Y đặc điểm tương tự gà dòng X. Khi mới nở gà con lông có màu nhạt hơn gà dòng X. Gà trống có chân cao hơn so với gà dòng X.
 

9. Gà Văn Phú


Gà Văn Phú là giống gà địa phương được thuần dưỡng từ lâu ở xã Văn Phú, Xã Sài Ngã, huyện câm khê, tỉnh Phú Thọ; giống gà này phân bố hẹp, chỉ chủ yếu ở một vài địa phương trong tỉnh.



Về đặc điểm ngoài hình, thể chất: gà Văn Phú có ngoại hình cân đối, chân chì, cao, lông đen pha lẫn trắng ở cuống lông, mào đơn, da trắng, xương nhỏ.

Khối lượng cơ thể qua các giai đoạn thấp hơn gà Đông Tảo, Gà Mán. Một năm tuổi con trống nặng 3,2kg, mái nặng 2 - 2,3kg. Sản lượng trứng khá 80- 100 trứng/mái/năm, khối lượng trứng 50 - 55 g. Tỷ lệ nở thấp, chỉ đạt trên 70% (Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận - 2003 )

Gà Văn Phú là giống gà kiêm dụng, được dùng chăn nuôi theo cả hướng thịt và hướng trứng.
 

10. Gà Nòi (hay còn gọi gà chọi)


Gà có số lượng không nhiều, rải rác nhiều nơi, thường tồn tại chủ yếu ở những địa phương có phong tục truyền thống văn hoá chơi chọi gà như: Hà tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Huế, thành phố Hồ Chí Minh (huyện Hoóc Môn)
Đặc điểm ngoại hình: Chân cao, mình dài, cổ cao, mào xuýt (mào kép) màu đỏ tía; cựa sắc và dài (con trống có lông màu mận chín pha lông đen ở cánh, đuôi, đầu). Tích và dái tai màu đỏ, con mái màu xám ( lá chuối khô ) hoặc màu vàng nhờ điểm đen, mỏ và chân màu chì, mắt đen có vòng đỏ.
 


Gà trống 1 năm tuổi đạt 2,5 - 3 kg, gà mái 1,8 - 1,9 kg; khi trưởng thành gà trống đạt 3-4kg, gà mái 2 - 2,5kg.

Năng suất của giống gà nòi: Sản lượng trứng 50 - 70 quả/mái/năm, trứng vỏ màu hồng, khối lượng 50 - 55 g/quả. Gà có sức khoẻ tốt, nhưng đẻ ít, khả năng tăng đàn chậm; được người dân nuôi để làm gà chọi trong các cuộc lễ hội. Một số địa phương như vùng Hoóc môn và các tỉnh miền Đông thường cho lai với gà ta để nuôi lấy thịt.
 

 11. Gà Ác


được thuần dưỡng đầu tiên ở các tỉnh Trà Vinh, Long An, Kiên Giang. Đặc điểm ngoại hình: Thân hình nhỏ, nhẹ, thịt xương màu đen, lông trắng tuyền xù như bông, mỏ, chân cũng màu đen, mào cơ phát triển, màu đỏ tím khác với các giống gà khác chân có 5 ngón nên còn gọi là gà Ngũ trảo và có lông chiếm đa số.

 

Gà ác trên 4 tháng tuổi có khối lượng trung bình 640 -760 g. Tuổi đẻ trứng đầu tiên là 110 -120 ngày, sản lượng trứng 70 - 80 quả/mái/năm, trứng nặng 30 - 32 g, tỷ lệ trứng có phôi 90%, tỷ lệ ấp nở /trứng xấp xỉ 64%. Gà mái có thể sử dụng tới 2,5 năm.

có khối lượng nhỏ, tỷ lệ ít nhưng lại là loại gà thuốc, bồi dưỡng (tỷ lệ sắt trong thịt cao hơn gà thường 45%, tỷ lệ axít amin cao hơn 25%). Gà thường được nuôi chủ yếu để hầm với thuốc bắc hoặc ngâm rượu để bồi bổ sức khoẻ và trị bệnh.
 

12. Gà Lương Phượng




Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa Trung Quốc do lai tạo giữa giống gà nội của Trung Quốc với gà nhập nội, được nhập vào nước ta từ sau năm 1997. Gà có màu lông đa dạng: vàng đốm đen ở vai, lưng và lông đuôi. Lông cổ có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen. Dòng mái có màu đốm đen, cánh sẻ là chủ yếu.

Dòng trống chủ yếu có màu vàng nâu nhạt - đốm đen; Chân màu vàng, mào đơn đỏ tươi, Thân hình cân đối, thân hình chắc, thịt ngon. Khối lượng cơ thể lúc mới sinh: 34,5 g, lúc 8 tuần tuổi đạt 1,2 - 1,3 kg. Khối lượng lúc 20 tuần tuổi con trống 2,0 - 2,2 kg, CON mái 1,7 - 1,8 kg/con. Tuổi đẻ đầu tiên 140 - 150 ngày, sản lượng trứng 150 - 170 quả/mái/năm.

có sức kháng bệnh tốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam: Nuôi công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả.
 

 13. Gà Tam Hoàng



Là một giống gà nuôi có xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc, được nuôi phổ biến ở một số nước để lấy thịt và lấy trứng. Đây là một giống gà thuần hoá, dễ nuôi và lớn nhanh và là loại gà hướng thịt thích nghi tốt với kiểu nuôi chăn thả cũng như chăn nuôi công nghiệp, có năng suất cao, chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Gà có bộ lông màu vàng nhạt (màu lông tương đối đồng nhất), chân vàng, mỏ vàng (nên được gọi là gà Tam hoàng), đuôi có lông đen lẫn vào, cơ thể hình tam giác, thân ngắn, lưng bằng, chân ngắn, hai đùi phát triển, chiều cao trung bình, trọng lượng khoảng 2 đến 4 kg (nuôi đến tháng thứ tư), một con gà trống trưởng thành trung bình nặng từ từ 2,5 – 4 kg, gà mái trưởng thành năng từ 2 - 2,5 kg, thịt gà vàng và rất chắc thịt.
mái đẻ khi 5 tháng tuổi, và đẻ khá năng suất, sản lượng trứng bình quân 150 quả/mái/năm (hoặc 68 tuần), tỷ lệ nuôi sống rất cao (95%) và khả năng kháng bệnh tốt, chính vì vây được nuôi phổ biến đặc biệt là tại Việt Nam 
Thịt gà tam hoàng có thể chế biến rất nhiều món tuỳ theo sở thích như: Luộc, kho tiêu, hấp hành, hầm với các loại củ... Thịt gà tam hoàng là món ăn không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng mà còn có thêm năng lượng, can xi. Ngoài những chất albumin, chất béo, thịt gà còn có các vitamin A, B1, B2, C, E, axit, canxi, photpho, sắt. Đây là loại thực phẩm chất lượng cao, cơ thể con người dễ hấp thu và tiêu hóa.
Theo Đông Y, thịt gà nói chung và gà Tam Hoàng nói riêng có tính ôn ngọt, không độc, bổ dưỡng, lành mạnh phổi. Loại thịt này còn chữa băng huyết, xích bạch đới, lỵ, ung nhọt, là loại thực phẩm bổ âm cho tỳ vị, bổ khí, huyết và thận. Đặc biệt, thịt gà có tác dụng bồi bổ cao cho người bị bệnh lâu ngày, dạ dày bị phong hàn, suy yếu không hấp thu được thức ăn. Ngoài bổ khí huyết, thịt gà còn giúp trừ phong.



Gà được nuôi theo hình thức công nghiệp (chăn nuôi công nghiệp) hoặc bán công nghiệp (thả vườn hoặc nuôi tập trung tại chuồng trại).
 
                                            ĐH (tổng hợp từ: kythuatnuoitrong, khuyennongvn)


Tags
Tiêu điểm
Top
Bình chọn Quả Cầu Vàng [X]