Kỹ thuật giâm cành chè (P2)


2.1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn sản xuất hom giống (vườn giống gốc)


Muốn có hom giống tốt phải có vườn cây mẹ tốt (vườn giống tốt) và áp dụng đúng kỹ thuật nuôi hom vì sự tái sinh của cây trồng từ một bộ phận trên cơ thể ban đầu có sự liên quan nhiều đến quá trình sinh lý, sinh hoá của cây mẹ. Có nhiều tài liệu cho rằng trong hom chè có nhiều đường, ít đạm thì thuận lợi cho ra rễ. Trong hom chè hàm lượng đường và đạm ở cuộng và lá không như nhau và chúng thay đổi theo mùa, từ tháng 8 đến tháng 1 hàng năm, hàm lượng đạm trong lá giảm để dùng cho phát triển đọt và tổng hợp các chất protit; còn mùa xuân và mùa hè thì hàm lượng đạm cao hơn. Hiểu được bản chất của quy luật này để có chế độ chăm sóc và điều chỉnh thời vụ nuôi hom giống trên cây mẹ là hết sức quan trọng và cần thiết.

* Tiêu chuẩn vườn giống gốc

Vườn giống gốc là vườn chè được trồng để thu hom chè giống, lấy cành hom để giâm. Vườn chè được  trồng bằng cành của những giống thuần chủng đã được chọn lọc. Nương chè để lấy hom phải được thâm canh ngay từ giai đoạn kiến thiết cơ bản, đặc biệt là chế độ phân bón. Khi trồng phải bón lót 30-40 tấn phân chuồng, kết hợp với 600-800kg supe lân trên 1 ha. Hàng năm phải bón bổ sung cân đối NPK. Tùy loại đất, tuổi chè mà xác định lượng phân bón cho thích hợp. Trong quá trình quản lý và chăm sóc luôn luôn giữ sạch cỏ, sạch sâu bệnh. Đốn tỉa hợp lý đảm bảo mật độ cành đồng đều: cây chè sau 2 năm đốn tạo hình một lần, chiều cao vết đốn trên thân chính cách mặt đất 25-30cm và các cành bên 40-45cm, sau khi đốn các mầm chè  đầu tiên cần được chăm sóc và bảo vệ chu đáo, khi chiều cao của các đọt chè vượt trên 1 m mới được hái tỉa. Đốn tạo hình lần 2 vết đốn cách mặt đất 45cm, thời vụ đốn vào tháng 12 và tháng 1, cây chè qua 2 lần đốn thì hàng năm áp dụng đốn phớt theo quy trình.

* Chọn cành, cắt hom và cắm hom

* Chọn cành:

- Chọn cành khỏe không sâu bệnh, cành bánh tẻ, độ dài và đường kính hom tùy theo giống.

- Đường kính hom từ 4 - 6mm, chiều dài hom từ 4 - 6cm (giống PH1), đường kính hom từ 2 - 3,5 mm, dài hom từ 3 - 5cm (các giống chè LDP1, LDP2).

- Màu sắc hom tùy theo giống, giống PH1 yêu cầu màu xanh. Giống TRI777 và các giống LDP1, LDP2 có màu nâu sáng.

- Cành chè khi cắt cần nguyên vẹn, tránh giập lá, gãy cành.

* Cắt hom:

- Khi cắt cành về cần cắt ra hom ngay, dụng cụ cắt hom bằng kéo sắc, vết cắt yêu cầu gọn, nhẵn không được dập xước.

- Mỗi hom có một mầm nách còn nguyên vẹn. Cắt mỗi hom 1 lá nguyên (giống lá nhỏ), cắt bớt 1/3 lá để giảm thoát hơi nước (giống lá to). Vết cắt trên và dưới theo mặt chiếu bên của hom có dạng hình thang cân. Tiêu chuẩn hom như bảng sau:
 
Tiêu chuẩn hom Hom loại 1 Hom loại 2  
Chiều dài hom (cm) 3,5 - 5,0 3,5 - 4,5  
Đường kính thân hom (mm) 3,0 - 4,0 2,5 - 3,0  
Độ dài mầm (mm) < 10 < 50  
Diện tích lá (cm2) > 20 > 18  
Số hom /kg 800 - 900 > 900 - 1200  
 
 
* Cắm hom:

- Trước khi cắm hom, bầu đất cần được tưới ẩm 80 - 85% bằng ô doa, hom chè được cắm thẳng đứng, lá xuôi theo chiều gió, cuống lá gần sát đất.

- Không cắm sâu quá mầm dễ bị thối, sau khi cắm xong phải tưới ẩm ngay, tốt nhất là tưới dưới dạng sương mù.

+ Bón phân:

Với nương chè vừa thu búp vừa để hom giống mỗi năm bón bổ sung 20-30 tấn phân chuồng/1 ha vào tháng 1 hàng năm. Trước khi để hom 15-20 ngày cần bón lượng phân khoáng hợp lý, cần coi trọng vai trò của kali và lân, thông thường lượng bón cho 1 gốc chè của vườn giống gốc như sau:

Urê: 10 - 12g; kaliclorua (hoặc Kalisunphat) 10-15g; Supelân 20-25g với nương chè có năng suất xung quanh 5 tấn/ha. (Chú ý lượng phân khoáng trên là bón bổ sung khi để nuôi hom giống không bao gồm lượng phân bón cho thời kỳ sản xuất búp trước đó). Tuỳ theo mức năng suất của nương chè để giống mà điều chỉnh tăng hoặc giảm lượng phân trên. Nếu nương chè để giống có mức năng suất dưới 5 tấn/ha thì giảm lượng phân trên 15% mỗi loại, nếu nương chè để giống năng suất trên 10 tấn/ha thì tăng lượng phân bón lê 15% mỗi loại.

+ Chăm sóc, bấm tỉa:

Trong thời gian nuôi hom phải kiểm tra kịp thời thường xuyên những búp rìa tán, những búp nhỏ, sinh trưởng đợt sau, phía dưới để tập trung dinh dưỡng vào búp chính để lấy hom. Cần điều chỉnh mật độ cành để thu được hom ở mức độ hợp lý, để lấy chất lượng hom tốt. Lượng hom thu được tính theo tuổi chè như sau:

Chè 4-8 tuổi: 150-200 hom/cây, tương đương 2-3 triệu hom/ha.

Chè trên 8 tuổi: 200-300 hom/cây, tương đương 3-4 triệu hom/ha. 

Thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh vì nếu để sâu bệnh phát sinh mới phun thì ảnh hưởng ngay đến chất lượng hom giống. Sâu phát sinh trong thời gian này thường là 4 đối tượng chính: rầy xanh, nhện đỏ, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ; ngoài ra có thể có sâu cuốn lá. Bệnh thường là bệnh thối búp và bệnh chấm nâu. Phòng trừ sâu bệnh theo quy trình và lịch phòng chống sâu bệnh.

Trước khi cắt cành để lấy hom giâm 10-15 ngày cần tiến hành bấm ngọn cành để cho những đoạn hom phần ngọn cứng cáp và kích thích mầm nách hoạt động.
 

2.2. Kỹ thuật vườn ươm và chăm sóc cây con.


Chăm sóc vườn ươm là khâu kỹ thuật rất quan trọng. Mặc dù cây mẹ để giống cho ra các hom tốt nhưng kỹ thuật chăm sóc vườn ươm không tốt sẽ cho kết quả không theo mong muốn, tỷ lệ cây sống thấp, thậm chí bị chết hoàn toàn nếu như người làm vườn không nắm được kỹ thuật vườn ươm. Điều này thường xảy ra đối với những cơ sở mới sử dụng kỹ thuật giâm cành nhưng không có chuyên gia chỉ dẫn. Cần phải nắm vững yêu cầu của cành giâm trong từng giai đoạn trong suốt quá trình cắm hom đến khi hình thành cây chè con đủ tiêu chuẩn đem trồng.

Hai yếu tố đặc biệt chú ý là: Chế độ ẩm và chế độ ánh sáng. Điều chỉnh độ ẩm đất theo từng giai đoạn, còn ánh sáng theo thời gian yêu cầu theo mức độ tăng dần. Nếu đất vườn ươm quá ẩm hom chè giâm sẽ bị rụng lá mặc dù mầm chè vẫn còn tươi nhưng không thể phát triển dẫn đến cành giâm bị chết. Qúa ẩm còn dẫn đến vết cắt của hom chè dưới đất chỉ hình thành mô sẹo phình to kéo dài, đường kính phình to có thể tới 1,5cm mà không ra rễ hoặc chỉ có 1-2 rễ ngắn không đáp ứng được yêu cầu sinh trưởng của cây. Nếu đất quá khô, cành giâm bị mất nước và khô chết, hoặc chỉ ra được ít rễ, mầm chè khó phát triển. ánh sáng rất cần thiết cho quá trình quang hợp của cây chè đảm bảo cho cành chè giâm tích luỹ chất hữu cơ cung cấp dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng  của cây chè con. Tuy nhiên giai đoạn này cành giâm cần ánh sáng yếu, chủ yếu là ánh sáng tán xạ, nên giai đoạn này phải che toàn bộ vườn, sau đó sẽ điều chỉnh ánh sáng tăng dần theo tình hình thời tiết, ngày giâm mát nên tăng cường ánh sáng và ngày nắng nóng thì ngược lại phải hạn chế bớt ánh sáng.

Sau hai yếu tố độ ẩm và ánh sáng thì chế độ phân bón đóng vai trò quan trọng cho quá trình lớn lên của cây chè. Một hom chè nhỏ bé vừa tách rời khỏi bộ phận của cơ thể mẹ lúc đầu chỉ được cắm trong 1 bầu đất với thể tích nhỏ và nghèo dinh dưỡng cho nên quá trình lớn lên của cây chè cần cung cấp lượng phân bón vào bầu ngày càng tăng. Tuy nhiên, thời kỳ và liều lượng bón phân cho vườn ươm đòi hỏi phải nắm được yêu cầu kỹ thuật của cành giâm theo từng giai đoạn. Giai đoạn đầu chưa hình thành mô sẹo nếu đất có nồng độ NPK cao hom chè sẽ bị chết. Về nguyên tắc khi hom chè có rễ thì mới có thể bón phân.

* Kỹ thuật làm vườn ươm:

+ Chọn địa điểm làm vườn ươm:

Chọn nơi đất bằng hoặc hơi thoải, thoáng, gần nguồn nước tưới, mực nước ngầm nhỏ hơn 1 m, tiện lợi giao thông đi lại và gần khu vực trồng chè.

+ Thời vụ giâm cành: ở nước ta, phía bắc có 2 thời vụ giâm cành tốt nhất là vụ đông xuân và vụ hè thu. Vụ đông xuân có thể giâm cành từ 15 tháng 11 đến trung tuần tháng 2. Vụ hè thu có thể giâm cành từ giữa tháng 6 đến trung tuần tháng 8. Vụ hè thu tỷ lệ sống thấp hơn vụ đông xuân do nhiệt độ không khí cao, mưa nhiều, lượng đường tan trong hom thấp, do đó giâm cành khó ra rễ hơn vụ đông xuân, nếu không thiếu giống nghiêm trọng thì miền Bắc chỉ nên giâm cành vào vụ đông xuân để vừa có hiệu quả trong sản xuất cây giống vừa để vườn giống gốc có thời gian phục hồi sức sống do chỉ lấy một vụ hom. Ở miền Nam (vùng Tây Nguyên và Bảo Lộc) thời vụ giâm cành có thể từ tháng 4 đến tháng 8.

+ Thiết kế luống, chọn đất và túi bầu

Sau khi chọn xong địa điểm tiến hành san bằng, đóng cọc căng dây phân luống. Những nơi sản xuất nhiều cần phân nhỏ thành từng vườn, mỗi vườn khoảng 500m2, vườn nọ cách vườn kia 2m để cho thông thoáng, trong vườn cần xác định vị trí để đào giếng lấy nước tưới. Luống chè là nơi đặt các bầu chè giâm.

Luống có chiều dài 15-20 m, chiều rộng 1,0 - 1,2m, giữa 2 luống chừa lại một rãnh rộng 40cm để đi lại chăm sóc , đào rãnh tiêu nước cho vườn ươm. 

Đất đóng bầu cần tơi xốp, có thành phần  cơ giới trung bình, ở miền Bắc đất thường có màu đỏ nâu, còn ở miền Nam (Bảo Lộc) đất có màu xám, trước khi lấy đất cần gạt tầng đất mặt từ 10 -20 cm. Đất được đập nhỏ qua sàng (đường kính viên đất nên nhỏ hơn 0,5cm) có điều kiện phơi khô nỏ càng tốt.

Túi bầu là túi PE có kích thước 10x18 cm đục 6-8 lỗ và hàn đáy, trong 1 m2 luống chè có thể xếp được 150 bầu. khi đưa đất vào túi bầu phải nhồi chặt, xếp bầu vào luống thật đứng và sít vào nhau, dùng tre nứa nẹp xung quanh luống, giữ bầu đứng không nghiêng, không đổ.

+ Làm giàn che:

Giàn che có tác dụng che nắng che mưa, giữ độ ẩm không khí và nhiệt độ thích hợp cho vườn ươm. Khung giàn thường làm bằng tre (những nơi có kế hoạch sản xuất bầu chè lâu dài, cột giàn có thể đổ bằng bê tông) che mái và che xung quanh bằng phên nứa, cỏ tế, lá mía hoặc lưới che nhưng tốt nhất là phên nứa, vì thuận lợi điều chỉnh ánh sáng và ẩm độ, nhiệt độ tốt hơn cho cây. Độ cao che giàn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng để đảm bảo cho đi lại chăm sóc tiện lợi dễ dàng ở Việt Nam nên làm cao từ 1,7m - 1,9m. Chân cột không đưa vào giữa rãnh sẽ rất khó khăn khi đi lại chăm sóc. Kiểu giàn che hiện nay rất phong phú tuỳ theo từng nơi. ở Gruzia làm giàn vòm phủ kín bằng vải trắng để có ánh sáng yếu nhưng giữ ẩm tốt, bên trong có vòi tưới phun tự động. Srila ka làm giàn thấp sát đất đỡ tốn vật liệu nhưng đi lại chăm sóc khó khăn. Trước đây Việt nam làm nhiều kiểu giàn khác nhau, ở Bầu Cạn, Tây Nguyên có kiểu bể giâm cành, xây bằng gạch nửa chìm trên đậy nylon để giữ ẩm, loại giàn này thích hợp với vùng khô Tây Nguyên.ở Bảo Lộc làm giàn che cao từ 1.8 - 1.9m trên che bằng lưới thưa màu đen.

+ Chọn cành cắm hom

Chọn cành khoẻ không sâu bệnh, độ dài và đường kính hom tuỳ theo giống, đường kính hom từ 4-6mm, đoạn cành dài từ 4-6 cm (giống PH1), đường kính hom từ 2,0 đến 3,5mm, đoạn cành dài  3-5cm (các giống chè LDP1, LDP2). Yêu cầu màu sắc của hom khi cắm tuỳ thuộc vào giống, giống PH1 yêu cầu màu xanh, nhưng TRI 777 và các giống chè  LDP1, LDP2 lại có lá màu nâu sáng. Cành chè khi cắt cần nguyên vẹn, tránh giập lá, gãy cành. dùng kéo sắc cắt hom (cành đưa về cắt và cắm ngay là tốt nhất), mỗi hom có một phần mầm nách còn nguyên vẹn không dài quá 0,5cm. Trường hợp cần vận chuyển hom đi xa thì nhất thiết phải bảo quản trong túi PE dày 0,5 mm, kích thước túi 100x80cm, đựng 3000-4000 hom/túi buộc kín phun ẩm bảo quản được 5 - 10 ngày. Khi vận chuyển hom bằng ô tô cần phải làm giá đỡ nhiều bậc, để mỗi bậc chỉ xếp một lượt túi tránh chồng lên nhau làm cho hom giập nát.

Trong khi cắt hom thường phân thành loại 1, loại 2 (có thể là A,B) để thuận tiện cho quá trình chăm sóc sau này.

Với giống PH1: Loại A hom bánh tẻ có một lá mầm và một mầm nách dài 1-5cm, đường kính hom trên 4mm. Loại B hom bánh tẻ có một lá và một mầm nách dài 5 cm ngắt ngọn, đường kính hom trên 4mm.

Trước khi cắm hom chè có thể xử lý bằng sunfat đồng (CuSO4) 0,1% để trừ nấm bệnh.

Cắm hom: trước khi cắm hom, bầu đất cần được tưới ẩm 80-85%, hom chè được cắm thẳng đứng, lá xuôi theo chiều gió, cuống lá gần sát đất. Không cắm sâu quá mầm dễ bị thối, sau khi cắm xong phải tưới ẩm ngay, tốt nhất là tưới dưới dạng sương mù.
 
Hoài Nam tổng hợp


Tags
Tiêu điểm
Top