Kỹ thuật nuôi cá chình


1. Đặc điểm sinh học

* Môi trường

Cá Chình là loài cá có tính thích ứng rộng với độ mặn, có có thể sống được ở nước mặn, nước lợ và nước ngọt.

Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày chui rúc trong hang, dưới đáy ao, nơi có ánh sáng yếu, tối bò ra kiếm mồi di chuyển đi nơi khác.

Da và ruột cá có khả năng hô hấp, dưới 15 độ C chỉ cần giữ cho da ẩm là cá có thể sống được khá lâu; trời mưa cá hoạt động rất khỏe.

Cá có phạm vi thích nhiệt rộng; nhiệt độ từ 1- 38 độ C cá đều có thể sống được, nhưng trên 12 độ C, thì cá mới bắt đầu kiếm mồi. Nhiệt độ sinh trưởng là 13- 30 độ C, thích hợp nhất là từ 25- 27 độ C.

Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước yêu cầu phải trên 2mg/1,5mg/l là thích hợp cho sinh trưởng, vượt qua 12mg/l dễ sinh ra bệnh bọt khí.
 

* Tập tính ăn và sinh trưởng

Cá Chình là loài ăn tạp, trong tự nhiên thức ăn của cá là tôm, tép, cá con, động vật đáy nhỏ và côn trùng thủy sinh.

Khi còn nhỏ, thức ăn chính của cá là động vật phù du nhóm Cladocera và giun ít tơ. Sau 2 năm nuôi cá đạt kích cỡ 50- 200g/con; nếu thức ăn tốt, sau 1 năm nuôi kể cả lúc vớt ngoài tự nhiên có thể đạt cỡ 4- 6 con/kg.

Cá sinh trưởng chậm, nhất là cỡ từ 300g trở lên tốc độ sinh trưởng chỉ bằng 1/10 tốc độ sinh trưởng của giai đoạn cá có trọng lượng 70- 100g.

Khi còn nhỏ, tốc độ sinh trưởng của cá trong đàn là tương đương nhau, nhưng khi đạt chiều dài hơn 40cm, thì con đực lớn chậm hơn con cái.

* Tập tính sinh sản

Cá Chình là loài cá di cư, cá mẹ đẻ ở biển sâu, cá con sau khi nở trôi dạt vào bờ biển, cửa sông, vùng nước ngọt; khi trưởng thành, cá lại di cư ra biển sâu để đẻ trứng.

Việc sinh sản nhân tạo cá chình đến nay vẫn còn khó khăn, tất cả cá giống đều dựa vào khai thác từ tự nhiên ngoài cửa sông hoặc ven biển. Ở nước ta, cá chình phân bố nhiều từ Quảng Bình vào đến Bình Định, đặc biệt là vùng hồ Châu Trúc ở Bình Định, hằng năm cung cấp một lượng cá giống quý cho dân trong vùng nuôi.

2. Khai thác cá chình hương

Có 3 phương pháp khai thác cá chình hương ngoài tự nhiên là:

- Dùng đèn tập trung cá theo tập tính hướng quang của cá vào ban đêm rồi dùng vợt để vớt.

- Đặt lưới đăng cố định ở cửa sông nơi có cá con phân bố để đánh bắt.

- Dùng 2 thuyền lưới để vây cá ở cửa sông ven biển rồi phân loại giữ lại cá chình.

3. Vận chuyển cá chình hương

Có 2 phương pháp vận chuyển cá từ nơi khai thác đến nơi ương giống:

* Vận chuyển bằng khay gỗ:

 - Kích thước khay 60cm x40cm x15cm (dài, rộng, cao); đáy khay ở dưới đục lỗ và lót lưới cho cá khỏi tuột ra ngoài; 5- 6 khay chồng lên nhau thành 1 chồng khay, khay trên cùng đựng nước đá (nước đá chảy ra làm ướt cá ở các khay phía dưới vừa hạ nhiệt độ vừa giữ ẩm cho da cá, để cá hô hấp tốt.

- Mật độ vận chuyển, với kích thước khay như trên, nếu cá thuộc loại còn màu trắng, mỗi khay có thể vận chuyển 1,5kg cá, nếu cá đã chuyển sang màu đen, mỗi khay vận chuyển 2- 4kg cá.
 

* Vận chuyển bằng túi nilông có bơm ôxy:

- Túi 2 lớp có kích thước 33 x33 x70cm; sau khi cho nước, cho cá, bơm ôxy đóng túi lại cho vào thùng giấy kích thước 66 x33 x36cm để vận chuyển. Mỗi thùng 2 túi chứa cá, giữa 2 túi cá là một túi đựng nước đá để hạ nhiệt cho cá.

- Với việc đóng gói như trên, thời gian vận chuyển an toàn là 24 giờ.

Chú ý:

+ Trước khi vận chuyển 1 ngày không cho cá ăn, cần nhốt cá vào giai, đặt chỗ nước trong, có dòng chảy để luyện 24- 26 giờ cho cá quen môi trường chật hẹp.

+ Phải hạ nhiệt độ cho cá xuống 8- 10 độ C mới cho cá vào túi, làm cho cá ở trạng thái ngủ, ít hoạt động, hạ nhiệt độ từ từ, không vượt q uá 5- 8 độ C một lần.

+ Khi đóng túi, mật độ không được vượt quá chỉ tiêu trên; ôxy không quá ít, nhưng cũng không được quá nhiều; không được đè vật nặng lên túi giấy; mỗi lần vận chuyển cần tính toán thời gian hợp lý; nếu thời gian quá dài phải mở túi để thay nước, bơm lại ôxy; nếu thời gian vận chuyển quá dài, mật độ vận chuyển phải giảm tương ứng.

+ Vận chuyển đến nơi, thả cả túi nilông xuống ao để cân bằng nhiệt độ rồi từ từ mở túi cho cá ra ngoài.

4. Nuôi cá hương lên cá giống

Ương từ cá vớt được ngoài tự nhiên có trọng lượng 0,5-1g/con lên cỡ 10- 15g/con; quá trình gồm các bước:

Tiêu độc cho cá

Dùng 1 trong 3 loại hóa chất sau để tiêu độc cho cá:
- KMnO4: 1- 3ppm
- CuSO4: 0,3- 0,5ppm
- Formalin: 1- 3ppm

Hoặc ngâm cá trong dung dịch nước muối 5- 7%o từ 1- 2 ngày, hoặc 15- 30%o từ 15- 30 phút.

Ao ương
- Diện tích ao ương tháng thứ nhất 50- 100m2, nước sâu 50- 60cm
- Tháng thứ 2: Diện tích 100- 200m2, nước sâu 70- 80cm
- Tháng thứ 3: Diện tích 300- 400m2, nước sâu 70- 80cm

Nhiệt độ nước ao

Tốt nhất là 28 độ C, dưới 22 độ C, cá hay bị nhiễm bệnh nấm thủy mi bám quanh thân. Nếu nhiệt độ khống chế được ở phạm vi 25- 29 độ C, cùng với các điều kiện quản lý chăm sóc tốt tỷ lệ sống có thể đạt 80- 95% và 20% cá nuôi trong năm (từ cá hương) có thể thành cá thương phẩm.

Mật độ
0,3- 0,5kg cá hương/m3 nước bể ương

Cho ăn

+ 1- 2 ngày đầu cho ăn Cladocera

+ Ngày thứ 3- 4, cho ăn hồng trần

+ Ngày thứ 5, cho ăn hồng trần nghiền vụn trộn với 10- 30% thức ăn tổng hợp; sau đó mỗi ngày tăng thêm 10% thức ăn tổng hợp, đến ngày tứ 10 thì cho ăn thức ăn tổng hợp chiếm 80%. Từ ngày thứ 15 trở đi thì cho ăn 100% thức ăn tổng hợp. Lượng thức ăn tổng hợp được tính bằng 10- 15% trọng lượng cá trong ao; mỗi ngày cho ăn 2 lần vào lúc 7- 8 giờ sáng và 4- 5 giờ chiều.

Giai đoạn cho ăn hồng trần, lượng thức ăn được tính bằng 30- 35% trọng lượng cá trong ao, ngày cho ăn 3 lần: sáng, chiều và tối.
Nếu nhiệt độ dưới 15 độ C, chỉ cho ăn 1 lần hoặc không cho ăn.

Khi cho ăn không sục khí, tập dần cho cá chỉ ăn ban ngày và khu vực cho cá ăn không cần che tối.

Thức ăn phải mềm, nhưng nếu quá mềm sẽ bị dễ tan trong nước; nên thêm dầu dinh dưỡng vào thức ăn, trộn đều rồi cho cá ăn.

Quản lý và chăm sóc

Ao ương phải đảm bảo các tiêu chí sau:

A, Các chỉ tiêu hóa học trong ao ương

Mặc dù có khả năng chịu đựng hàm lượng ô xy thấp rất tốt, nhưng để cá tăng trưởng nhanh thì hàm lượng ô xy hòa tan trong nước tốt nhất phải đạt 5mg/l trở lên, dưới 4mg/lít cá sẽ không lớn được;

pH = 7- 8,5;
NH4 –N: < 2 ppm, NO3- N: < 0,2  ppm;

Vượt quá chỉ tiêu trên cá sẽ bị bệnh viêm nang, viêm ruột;

Độ trong trên dưới 40cm, không được dưới 20cm.

b. Quản lý hàng ngày

Hàng ngày phải xi phông đáy ao, hút bớt phân rác ở đáy làm giảm lượng NH4- N gây độc cho cá, sau đó bổ sung nước mới, lượng nước mới bổ sung hàng ngày bằng ½ lượng nước trong ao.

Đặt máy sục khí để làm tăng ô xy hòa tan trong nước; máy có thể dùng bơm nén khí 0,03m3/giây, mỗi máy dùng cho 40 viên đá bọt. Cứ 2,5m3 nước dùng 1 viên đá bọt đủ đảm bảo mỗi lít nước 5mg ô xy hòa tan. Hoặc có thể dùng máy quạt nước, mỗi ao đặt 2 máy 0,55kw, vừa cấp khí vừa tạo thành dòng chảy trong ao.

c. Phân loại cá để nuôi

- Quá trình ương nuôi cá phân đàn rất nhanh nên phải phân loại kích cỡ lớn, bé để nuôi cho thích hợp; thông thường cứ 25- 30 ngày phân cỡ một lần, nếu cá lớn nhanh, thời gian phân đàn có thể rút ngắn hơn;

- Trước khi phân đàn 12 giờ không cho cá ăn; sau khi phân loại sau 30 phút cho cá ăn bình thường.

d. Có thể nuôi ghép cá chình với các loại cá khác

- Cá chình có thể nuôi ghép với cá mè trắng, mè hoa, cá chép, cá diếc để ăn sinh vật phù du trong ao, làm sạch nước ao, vừa có lợi cho cá chình vừa thu thêm được sản phẩm;

- Tỷ lệ thả ghép: 1.000m2 ao ương cá chình thả thêm 4- 5 con vừa mè trắng, mè hoa, chép hoặc diếc.

5. Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm

A. Nuôi trong bể xây bằng gạch hoặc bằng xi măng

Đây là hình thức nuôi cao sản, vì vây đòi hỏi các điều kiện sau:

+ Phải có dòng nước chảy trong bể;
+ Phải cho ăn thức ăn công nghiệp chế biến riêng cho cá chình;
+ Phải được quản lý, chăm sóc chu đáo;
+ Mật độ 20- 25 con/m2; mật độ cao hơn 30- 35 con/m2.
Đảm bảo các chỉ tiêu trên năng suất có thể đạt được 30- 40 tấn/ha (tức 10,5- 12kg/m2)
+ Thức ăn nuôi cá chình phải có tỷ lệ đạm 45%, mỡ 3%, cellulo 1%, canxi 2,5%, photpho 1,3% cộng thêm muối khoáng, vi lượng, vitamin thích hợp. Nói chung tỷ lệ bột cá chiếm 70- 75%, tinh bột 25- 30% và một ít vi lượng, viatmin.

Thức ăn của cá có tỷ lệ bột khá cao, mỡ nhiều nên dễ hút ẩm, dễ mốc, do đó phải chú ý bảo quản tốt, thời gian bảo quản không quá 2 tháng.

Cũng như với cá giống, khi cho ăn thức ăn phải được thêm nước, thêm dầu dinh dưỡng trộn đều làm thành loại thức ăn mịn mới cho cá ăn.

Cứ sau mỗi tháng phân cỡ 1 lần, tách con lớn, con nhỏ nuôi riêng để cá đồng đều và chóng lớn.

Trước khi phân cỡ cho cá nhịn 1- 2 ngày; đùa ao để cá bài tiết hết thức ăn trong bụng, dùng sàng nhẵn để phân loại cá, dùng vợt không dùng tay bắt cá.

Quản lý nước như giai đoạn phân cá giống.

B, Nuôi trong ao đất

1. Ao nuôi
Diện tích trung bình 800- 1.200m2, mực nước trung bình 1,0- 1,2m; bờ ao phải cao hơn mặt nước cao nhất trong ao ít nhất là 60cm. Ao không rò rỉ, nước trong sạch, pH> 6,8, ít bị ảnh hưởng nước mưa. Đáy ao là cát, hoặc cát bùn.

2. Mật độ thả
Chỉ thả giống sau khi tẩy dọn kỹ ao, thời điểm thả từ trung tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 4, khi nhiệt độ nước >13 độ C. Mật độ thả tùy thuộc vào điều kiện ao nuôi, phương thức nuôi và kích cỡ cá giống.

Nếu muốn đạt năng suất 15 tấn/ha, thả 12- 15 con/m2 (cỡ 20g/con) hoặc 9- 12 con/m2 (cỡ 50g/con); nếu nuốn đạt 100 tấn/ha, thả 30- 35 con/m2.

3. Quản lý ao nuôi

3.1. Thức ăn và cách cho ăn
Có thể sử dụng 2 loại là: Thức ăn tươi và thức ăn công nghiệp; cho ăn theo nguyên tắc 4 định: Định chất, định lượng, định thời gian, định địa điểm.

- Định chất: Thức ăn có độ đạm; nếu dùng thức ăn tươi thì cần phải tươi, rửa sạch, sát trùng kỹ sau đó cắt nhỏ rồi cho cá ăn. Thức ăn phải có tỷ lệ đạm 45%, mỡ 3%, cellulo 1%, canxi 2,5%, phootpho 1,3% cộng thêm muối khoáng, vi lượng, vitamin thích hợp (tỷ lệ như nuôi trong bể).

+ Thức ăn tươi sống là cá, trai, hến; trước khi cho ăn cần chần cho thịt cá gần chín, sau đó dùng dây thép xâu xuyên lại rồi treo trong ao, hoặc bỏ vào trong lồng lưới sắt. Nếu cho ăn trai, hến thì nên thái thành miếng nhỏ.

+ Bổ sung dưỡng chất:
Thời gian tiêu hóa hết thức ăn của cá là 6 giờ; thông thường phải trộn thêm vào thức ăn một ít men bia, men tiêu hóa đường, elisa của khuẩn đơn bào và vi khuẩn sống trong ruột vv.

* Men bia: là hỗn hợp các nấm men và bã bia sau khi đã sấy khô; men bia chứa 40- 50% protein thô, một lượng lớn vitamine nhóm b và kích tố sinh trưởng. Có thể phối hợp với tỷ lệ 2- 3%.

* Men đường mật: Chứa nhiều sinh tố nhóm B, thu được bằng cách phun trong chân không ở nhiệt độ thấp, có mùi rất thơm, làm tăng tính ăn của cá.

* Elisa của khuẩn đơn bào: Thu được trong quá trình lên men đường củ cải, có vị thơm ngọt của men, cho cảm giác ngon, có nhiều các protein, chất khoáng, vitamine và nhiều chất kích thích sinh trưởng chưa biết tên. Chất này dễ tiêu hóa, cá chình rất thích ăn. Hàm lượng protein thô trên 65%, chất béo thô trên 4,5%; tỷ lệ pha trộn vào thức ăn khoảng 1-2%.

* Hỗn hợp vi khuẩn sống bao gồm: Các chủng Lactobacillus. Sp, Pediococcus acidilatici cùng với các chất nuôi cấy; mỗi gam hỗn hợp này có khoảng trên 120.000 vi khuẩn sống, có tác dụng tăng cường hấp thụ chất dinh dưỡng ở phần ruột non và gia tăng nhu động phần ruột già, rút ngắn thời gian tiêu hóa thức ăn. Trong ruột cá, những vi sinh vật này sẽ cạnh tranh với các vi sinh vật có hại về mặt không gian và chất dinh dưỡng làm cho chúng không phát triển được, thậm chí bị tiêu diệt. Đặc biệt là loài Pediococcus acidilatici có tính kháng cự khá mạnh, sức ức chế vi sinh tạp có thể mạnh gấp 10 lần vi khuẩn Lactobacillus.

* Các chất bổ gan, mật: Để tăng cường chức năng tiêu hóa, khả năng chịu đựng điều kiện chất lượng nước kém do nuôi với mật độ cao hoặc lạm dụng hóa chất cần thiết phải bổ sung vào thức ăn một lượng thuốc bắc, axit mật (bile acid) và những chất bổ gan, mật khác.

- Sài hồ (Bupleurum chinense): Có tính đắng, hơi hàn, có chứa nhiều steroidal saponins, các loại axit béo thăng hoa, có tác dụng kháng virus, diệt ký sinh trùng và giữ cho gan khỏi bị tổn thương.

- Bản lam căn (Radix Isatidis): Có vị đắng, tính hàn; thành phần chủ yếu là Indican có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Mỗi kg thức ăn bổ sung từ 10- 15g thuốc này.

- Axit mật (Bile acid): Có thể xúc tiến hấp thụ mỡ, vitamine, cholesterol; giải các chất độc trong thức ăn có nhiều mỡ để lâu ngày. Mỗi tấn thức ăn bổ sung khoảng 100g.

- Định địa điểm: Phải cố định vị trí đặt sàng cho ăn; sàng là khung hình vuông kích thước 90 x 50cm căng lưới nilong, mắt lưới to, nhỏ phụ thuộc vào kích cỡ cá; nên đặt sàng ăn ở chỗ tối, kín gió.

- Định lượng: Thức ăn tươi mỗi ngày từ 20- 30% trọng lượng cá trong ao; thức ăn chế biến hoặc thức ăn công nghiệp từ 3- 4% trọng lượng cá trong ao. Khi nhiệt độ thấp hoặc quá nóng vào mùa hè (trên 30 độ C), nên giảm bớt khẩu phần; thức ăn phải đảm bảo cá ăn hết sau 20 phút.

- Định thời gian: Cho ăn vào lúc 8- 9 giờ sáng và 4- 5 giờ chiều; 5 phút sau khi trộn đều thức ăn với dầu, nước phải cho cá ăn ngay, khoảng 2/5 số thức ăn nổi trên mặt nước, 3/5 rơi xuống khay đựng thức ăn là đạt yêu cầu.

Sàn cho ăn nên đặt ở vị trí giữa hoặc gần đáy, nhưng cũng có thể để sát tầng mặt để tiện quan sát hoạt động bắt mồi của cá. Bên trên sàn nên che ánh nắng mặt trời.

Đề phòng cá bỏ ăn, có thể dùng các phương pháp sau:

+ Phải che nơi cho ăn
+ Cần tăng thêm điểm cho ăn để số cá tản mát vẫn có thể tìm được mồi
+ Có thể đưa thức ăn vào lồng có kích cỡ mắt lưới khác nhau để cá to không cạnh tranh thức ăn với cá nhỏ
+ Nên có biện pháp phòng bệnh sớm đối với các loại bệnh như: Đốm trắng, trùng bánh xe, sán lá Dactylogyrus… Nếu những loài này ký sinh sẽ làm cho cá yếu dễ tạo điều kiện cho con khác ăn thịt
+ Trong cùng 1 ao nên thả giống cùng 1 cỡ, nên phân loại cá hàng tháng.

3.2. Lọc phân đàn
Định kỳ phân cỡ cá 1 tháng/lần, tách cá lớn, nhỏ nuôi riêng để cá đồng đều và chóng lớn; trước khi phân cỡ để cá nhịn ăn từ 1- 2 ngày, đùa ao để cá bài tiết hết thức ăn trong bụng; dùng sàng nhẵn để phân loại, không dùng tay bắt cá.

3.3. Quản lý chất lượng nước
Ao nuôi năng suất 15 tấn/ha cần lắp bộ sục khí 1,5- 2,0kw cho 1.000m2; căn cứ vào thời tiết cụ thể mà mỗi ngày mở máy 3- 4 lần để giúp phân phối đều ô xy trong các tầng nước. Trước khi cho cá ăn nên sục khí để đề phòng thiếu ô xy cục bộ do cá tập trung ăn tại một chỗ.

Nếu có điều kiện thì nuôi bằng nước chảy; nếu nuôi trong ao nước tĩnh, cần thay 1/10 lượng nước trong ao khi nhiệt độ cao; nên thay nước khi trời mát. Khi có mưa to hoặc nước lũ cần ngừng cho ăn và không thay nước. Trường hợp ao bị nước lũ tràn vào, nên dùng thuốc tím 1,5ppm hoặc vôi sống 15- 20ppm để ổn định chất lượng nước; không nên sử dụng nước lũ để thay nước ao.
                            
                                                ĐH (Theo nhóm tri thức Việt)
 


Tags
Tiêu điểm
Top