Kỹ thuật phòng và chữa bệnh cho vịt


1. Bệnh truyền nhiễm cấp tính

 
 

(Ảnh Internet)
 
- Đặc điểm lâm sàng: Thân nhiệt cao, chân yếu, đi lại khó khăn, đi ngoài phân lỏng màu xanh lá cây, chảy nước mắt. Thường thấy phần đầu sưng to, vì thế mà có tên gọi là “Đại thủ ôn”.

- Nguyên nhân: Do một loại độc tố gây phát ban; vịt khác nhau về chủng loại thì cũng đều bị nhiễm đối với loại bệnh này. Theo tính chất của thời tiết, thì biểu hiện bệnh là không rõ ràng; nhưng thông thường, bệnh phát triển nhanh vào mùa xuân, hè và mùa thu.

- Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh từ 2- 5 ngày, lúc cao thân nhiệt có thể lên đến 42 độ C, mệt mỏi và kém ăn, khát nước, hai chân mềm nhũn, lông, cánh rũ xuống, hành động chậm chạp. Nếu bệnh nặng thì vịt chỉ nằm không đi lại được; phân màu xanh lá cây hoặc màu tro, mắt sưng trũng, chảy nước, một phần huyết thanh hoặc mủ nhầy chảy ra; mũi chảy máu, hô hấp khó khăn, phần đầu sưng to.

- Quá trình diễn biến bệnh: Thông thường bệnh diễn biến trong 3- 4 ngày, sau đó suy nhược và chết; tỷ lệ tử vong lên đến 90%.

- Phòng trị: Bệnh không có thuốc đặc trị, nên chủ yếu làm tốt công tác phòng tránh nguồn bệnh và tăng cường chăm sóc.

 Tiêm vắc xin: Vịt 2 tháng tuổi trở lên thì tiêm dung dịch loãng 200 lần vào sườn với 1ml, lúc vịt mới sinh thì dùng 50 lần dung dịch loãng vào phần chân với 0,25ml.

Tăng cường chăm sóc, vệ sinh chuồng trại, sử dụng thuốc khử trùng định kỳ cho bãi thả vịt, không chăn thả vịt những nơi có dịch.
 

2. Bệnh viêm gan


Là một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính của vịt non; tỷ lệ tử vong cao nhất lên đến 90%. Đối với vịt non, thời kỳ nguy hiểm nhất là từ 4- 10 ngày tuổi.

- Nguyên nhân: Bệnh sinh ra do độc tố đường ruột, sau khi bị nhiễm, kỳ ủ bệnh là 1- 4 ngày. Bệnh phát nhanh làm cho vịt suy yếu, mắt nhắm chặt, lờ đờ, trạng thái thần kinh và vận động mất cân bằng, cơ thể đổ nghiêng về một bên, hoặc rũ cánh xuống đất, quay tròn, hai chân vận động theo cơn ho, đầu nghiêng về sau, xuất hiện tư thế cong thành góc. Những triệu chứng trên xuất hiện trong khoảng thời gian vài chục phút đến vài giờ rồi tử vong.

- Khám nghiệm: Nội tạng sưng to, điểm chảy máu hoặc nơi đọng máu kết thành mạc to nhỏ không giống nhau; nang gan sưng to, nhiều nước, thận và phổi có lúc cũng sưng to.

- Phòng trị: Tiêm 0,5ml huyết thanh miễn dịch nhanh và hồi phục sức khỏe cho vịt; để phòng bệnh, cũng có thể dùng trứng của gà mẹ đã được miễn dịch tạo thành vắc- xin trứng miễn dịch để tiêm 1- 1,5ml/con; cho vịt ăn lượng thức ăn tăng dần, đồng thời cung cấp đủ vitamin và chất khoáng nhằm tăng khả năng đề kháng cho vịt.
 

3. BệnhParamyxovirus


- Nguyên nhân: Bệnh do độc tố Paramyxovirus gây ra, là bệnh truyền nhiễm có đặc trưng do hệ thống hô hấp và đường tiêu hóa chống lại.

- Trạng thái bệnh: Thời gian đầu vịt kém ăn dần, lông rủ, uống nhiều nước, cổ rụt, hai chân không có sức lực, một bên cánh bị như bại liệt, lông vũ thiếu dần, bắt đầu đi phân trắng, sau đó chuyển màu đỏ, sau nữa xuất hiện màu xanh hoặc màu đen; một số con khó thở, đầu thõng, trong miệng có tích dịch dính, một số xuất hiện trạng thái quay tròn, hoặc nghiêng đầu ra sau.

- Khám nghiệm: Phát hiện gan và phổi sưng to; bề ngoài có sắc trắng, xấu như ngọn nến tắt và cỡ to nhỏ khác nhau; ba đoạn ruột đầu, giữa và cuối đều chảy máu, hoại tử, ruột bị kết lại, nhìn thấy vết lở loét to và nhỏ. Điểm giao nhau giữa dạ dày và cơ dạ dày có xuất hiện chảy máu. Khoang miệng có nhiều chất dịch dính, cổ họng chảy máu, đường ăn tạo màng dính màu trắng đục to và nhỏ khác nhau hoặc đờm màu vàng tạo ghẻ và dễ bị rách.

- Phòng trị:

a. Cho đàn vịt bị nhiễm bệnh sử dụng ngay văc- xin Pharamyxovirus, mỗi con tiêm 0,5ml.

b. Khi bùng phát bệnh E.coli đường ruột, thì vịt hay dễ bị mắc bệnh do đó cần tăng cường phòng trị bệnh này.

c. Chuồng, nuôi, đồ dùng, bãi đất nuôi cần được khử độc một cách triệt để (bao gồm cả nguồn nước).
 

4. Bệnh giảm lượng trứng


Bản chất là do bệnh truyền nhiễm của một loại bệnh nhiễm độc nội tiết, bệnh chủ yếu là cản trở hệ thống bài tiết độc tố sinh sản và bài tiết phân. Bệnh chủ yếu phát sinh ở đàn vịt đẻ, bệnh truyền nhiễm trực tiếp qua trứng và rất nhanh, cũng có thể qua đường hô hấp và đường tiêu hóa.

- Triệu chứng: Thông thường khi bị bệnh, vịt không có triệu chứng cụ thể, chủ yếu là biểu hiện đột xuất như lượng trứng giảm rõ rệt (có khi chỉ còn 50%); trứng đẻ ra mềm, hình thù kỳ dị, khối lượng nhỏ (có quả lòng trắng mỏng như nước).

- Khám nghiệm: Khi bị bệnh, buồng trứng của vịt phát triển không bình thường, ống dẫn trứng bị thu nhỏ, nang trứng mềm, tử cung và ống dẫn trứng bị sưng và dính một màng nước, chảy máu, lớp mỡ dày, trong ống dẫn trứng mắc kẹt bởi một vật thể như viên pho mát hoặc màu trắng thấm ra ngoài.

- Phòng trị: Bệnh này có thể liên quan đến bệnh truyền nhiễm như cúm gà…hoặc do nguyên nhân khác như chế độ chăm sóc và thức ăn… Cách phòng trị có thể dùng  trực tiếp vắc- xin: Vịt trứng 120 ngày tuổi thì dùng vắc- xin nhũ tương tiêm trực tiếp vào mỗi cánh 01ml cho vịt có triệu chứng bệnh tổng hợp giảm trứng (hoặc vắc- xin yếu sáp ong). Đối với đàn vịt đã phát sinh bệnh thì cần tăng cường khử độc những khu vực nuôi, phải bổ sung vitamin A, D3, hợp chất vitamin để làm cho lượng trứng tốt lên… Đồng thời tăng lượng thuốc kháng bệnh cho vịt (virus), thuốc kháng sinh…
 

5. Bệnh viêm tủy não


- Nguyên nhân: Là một loại bệnh truyền nhiễm có tính độc cản trở hệ thống thần kinh của vịt non. Đặc trưng chủ yếu là vận động mất cân bằng và phần đầu bị rung, chấn động. Nguyên nhân bệnh là viêm tủy não trên gia cầm, chủ yếu tấn công vào vịt non ở giai đoạn 1- 3 tuần tuổi và 7- 14 tuần tuổi. Tỷ lệ phát bệnh là 50- 60%, tỷ lệ chết là 20- 30%. Bệnh chủ yếu lây lan qua đường tiêu hóa, sau khi vịt bị cảm, nhiễm thì có thể truyền nhiễm trực tiếp cho trứng.

- Triệu chứng: Thông thường vịt biểu hiện ở giai đoan 1- 3 tuần tuổi, bắt đầu có biểu hiện thần kinh không linh hoạt, sau đó thì mất cân bằng vận động (ngã về phía trước và sau hoặc ngã sang một bên). Vịt như bị động kinh, không kiểm soát được các động tác, chân cong thành khúc và hướng ra bên ngoài, đi lại khó khăn, cánh dang rộng; phần đầu rung rung, bước đi không vững và sau cùng thì bị tê liệt hoàn toàn.

- Khám nghiệm: Có thể nhìn thấy là phần đại não sưng to, bộ phận bán cầu não sau có tích dịch, màng não bị xung huyết, đồng thời có khu vực hoại tử màu xanh nhạt đục. Tầng bên trong của cơ dạ dày có trạng thái tổn thương màu trắng nhỏ và tương đối nhiều; phần lách hơi sưng, phần ruột non có triệu chứng bị viêm nhẹ.

- Phòng trị: Tiêm trực tiếp vắc- xin vào nơi vịt bị mắc bệnh nặng; một tháng trước khi vịt đẻ trứng thì dùng vắc- xin yếu bổ trợ dầu của cúm gia cầm viêm não tủy. Khi vịt con phát bệnh thì ngay lập tức loại bỏ con mắc bệnh, đồng thời thực hiện các biện pháp khử trùng, tiêu độc, cách ly và phòng chống tổng hợp đề phòng dịch lây lan. Tiến hành tiêm chất kháng thể cao từ lòng đỏ cho đàn vịt nghi bị nhiễm viêm tuỷ não, đồng thời sử dụng dịch bột khử trùng (mỗi bao 50kg trộn với 25kg nước hòa với Vitamin C, phối hợp với Vitamin B dạng dịch và chất kháng sinh; dùng liên tiếp từ 3- 5 ngày) thì có thể khống chế được dịch bệnh.
 

6. Bệnh hoại tử đường ruột


Bệnh còn có tên gọi ốm thổi ruột, do sau khi vịt sinh đẻ nhiều và đường ruột của vịt bị vi khuẩn gây hoại tử tấn công; đặc trưng của bệnh là đường ruột bị hoại tử và kết dính thành màng, đi ngoài phân có màu đen.

- Nguyên nhân: Nguyên nhân của bệnh là từ môi trường tự nhiên, những nơi như ao đất, ao bùn, bãi chăn thả vịt… đều có thể gây nên. Khi niêm mạc ruột của vịt bị tổn thương, hoặc vi khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh phá hoại, hoặc do chăm sóc không tốt (chuồng ẩm ướt, thiếu dinh dưỡng…). Bệnh có thể phát cả 4 mùa trong năm, nhưng nhiều nhất là khi trời ẩm thấp, thời tiết nóng nực; bệnh thường thấy ở vịt trưởng thành.

- Triệu chứng: Vịt gầy dần, phân có màu đen khô và mùi tanh, thối, xung quanh hậu môn có phân dính; vịt ăn uống kém, thậm chí bỏ ăn, có đôi lúc nôn ra dịch màu đen.

- Khám nghiệm: Khi rạch bụng, mùi phân tanh, thối khó chịu; màng ruột dính và xung huyết, phù thủng, thành ruột dày lên và thối rữa, thậm chí bị rách lỗ, ruột dính và có màu đen; gan, thận sưng to và khô teo.

- Phòng trị: Dùng Penicilin, Furazolidone, Bacitracin, hoặc có thể sử dụng Amoxicillin, Lincomycin, hỗn hợp thần kinh; trong trạng thái bệnh lâm sàng, thông thường sử dụng nhiều loại thuốc phối hợp với nhau.

- Phòng tránh: Phòng tránh đối với loại bệnh này chủ yếu là tập trung chăm sóc, tăng khả năng kháng bệnh của vịt; đồng thời làm tốt vệ sinh chuồng trại, thường xuyên tiêu độc khử trùng cả trong những ngày bình thường. Trong thời gian hay bùng phát bệnh, có thể tiến hành dự phòng bằng cách dùng những loại thuốc kể trên.
 

7. Bệnh trùng Antipestifer (vịt nhiễm Serositis)


- Nguyên nhân: Bệnh do một loại vi trùng có tên Anatipestifer, Gram âm tính; bệnh chủ yếu trên vịt non từ 2- 7 tuần tuổi. Do chế độ chăm sóc không tốt cộng với những nhân tố kích thích bên ngoài.

- Triệu chứng: Kỳ ủ bệnh từ 1- 3 ngày; nước mắt và nước mũi chảy ngày càng nhiều, quanh mắt có lông mi dính ướt, vịt ho, hắt hơi, phân có màu xanh, chân mềm đi lại không vững, hay ngã; hai chân đi đan vào nhau như đang trong trạng thái bơi, phần đầu run rẩy và rất nhanh chết.

- Khám nghiệm: Khi vịt chết, tim có tích một loại dịch, có một màng Cellulose bao lấy tim và bên ngoài tim, liên kết dính với tim; gan sưng to khi sắp chết thì dày lên, có màng bao bọc màu trắng và có những điểm xuất huyết, bọc huyết; khí nang thô ráp, không rõ ràng, giống như dạng pho- mát màu vàng nhạt.

- Điều trị: Dùng Lincomycin và Ciprofloxacin; hòa trộn 20% Lincomycin dùng liên tục trong 3 ngày. Những con mắc bệnh nặng thì căn cứ vào thể trọng tiêm 10mg/con hai lần/ngày, liên tục 2- 3 ngày; hoặc dùng Ciprofloxacin uống với nước nồng độ 0,01% liên tục từ 3- 5 ngày.

- Phòng tránh:

+ Đối với vịt non 7 ngày tuổi thì tiêm trực tiếp dưới da 0,5ml vắc- xin khi nhiễm Serositis.

+ Đối với vịt 12- 30 ngày tuổi dùng lincomycin và Ciprofloxacin thay đổi cho nhau dùng một lần.

+ Chuồng trại, đồ dùng và bãi vận động của vịt cần định kỳ tiêu độc khử trùng, bảo đảm vệ sinh sạch sẽ, tháng mát.
 

8. Bệnh viêm màng lòng đỏ (dịch ở trứng)


Bệnh thường xuất hiện ở vịt đẻ trứng; do buồng trứng, ống dẫn trứng của vịt bị nhiễm virus đường ruột Escherichia, dẫn đến màng lòng đỏ bị viêm. Trong thời kỳ bệnh phát triển khiến cho lượng trứng giảm xuống và vịt bị tử vong; tỷ lệ tử vong khoảng 10- 20%. Tính chất cảm nhiễm bệnh là rất lớn. Khi đàn vịt tiến hành giao phối trong ao, hoặc ở vũng nước nông bị ô nhiễm thì cơ quan sinh dục của vịt đực bị thu nhỏ và có khả năng bị truyền nhiễm căn bệnh này.

- Triệu chứng: Vịt có biểu hiện trạng thái không hưng phấn, sức ăn giảm, không thích vận động, hai chân thu lại nằm phục xuống đất; khi xuống nước thì tách đàn bơi một mình, lông sũng nước, xung quanh hậu môn dính phân và có mùi hôi thối; trong phân có lúc có lòng trắng, lòng đỏ trứng; bụng phía dưới thì chướng to lên. Sau thời gian nhiễm bệnh khoảng 1 tuần có thể bị chết.

- Khám nghiệm: Sự biến đổi đặc tính của bệnh là từ lòng đỏ trứng có sự tổn thương do viêm màng bao bọc, trong bụng có những dịch thể hỗn độn màu vàng nhạt và mùi tanh thối. Bề mặt bên ngoài của những cơ quan trong cơ thể phủ một lớp mang tính thấm vật thải ra ngoài Cellulose đóng cứng lại và có màu vàng nhạt. Buồng trứng bị biến dạng nhỏ đi.

- Phòng bệnh: Thông thường nên tăng cường biện pháp vệ sinh tiêu độc chuồng trại cho cả đàn vịt; đối với vịt đực cần tiến hành kiểm tra từng bước, phát hiện cơ quan sinh dục bị bệnh thì cần loại bỏ đi, không chăn thả những nơi nước bị ô nhiễm; duy trì cho tổ trứng luôn khô ráo, sạch sẽ và kịp thời cách ly đối với vịt bị bệnh.

- Điều trị:

+ Hòa Furazolidone nồng độ 0,03% cho uống liên tục từ 5- 7 ngày.

+ 1000kg theo thể trọng đàn vịt, mỗi lần dùng 40g chất Chloromycetin, chia làm 2 lần cho uống với nước liên tục trong 3- 5 ngày.

+ Dùng 50g Amoxicillin hòa với 50kg nước, cho uống mỗi ngày 2 lần liên tục từ 3- 5 ngày.

+ Tiêm Gentamicin vào cơ 10.000- 20.000 đơn vị/ngày/con liên tục trong 3 ngày.
 

9. Bệnh tả gia cầm


- Nguyên nhân: Bệnh do vi khuẩn Papanicolaou, Gram âm tính gây ra, ngoài vịt thì những loại gia cầm khác như gà, ngan, ngỗng… đều có thể bị nhiễm bệnh. Do bệnh thường có dấu hiệu tiêu chảy nhiều nên có tên gọi chung là bệnh tả gia cầm; bệnh truyền nhiễm qua đường tiêu hóa và hô hấp và thường hay bùng phát đối với vịt trưởng thành.

- Triệu chứng: Trạng thái bệnh được chia thành 3 loại: Tối cấp tính, cấp tính và mãn tính. Tối cấp tính, thông thường không nhận ra những biểu hiện lâm sàng của bệnh, vịt có thể đột ngột lăn quay ra rồi chết hoặc vẫn đi vào chuồng bình thường, nhưng ngày hôm sau thì chết. Vịt bị cấp tính thì trong trạng thái yếu ớt, tách đàn, cánh và đuôi rũ xuống, đầu cụp vào cánh như đi ngủ, bỏ ăn uống, thân nhiệt khoảng 42,5- 43,5 độ C, miệng khát nước, thở khó khăn, đầu lắc lư, phân màu xanh hoặc trắng xám, chân tê cứng và sau 2-3 ngày thì chết. Vịt mãn tính thì biểu hiện gầy gò, khớp sưng, khi đi thì nhao về phía trước.

- Khám nghiệm: Có thể nhìn thấy màng tim và cuống tim bị dính lại, mỡ, phổi, dạ dày và màng dịch đều có những điểm xuất huyết. Đoạn ruột lớn nhất bị viêm và xuất huyết; gan sưng to, biến sắc trở nên cứng. Những phần bị hoại tử lây lan ra có màu trắng nhờ nhờ to và nhọn.

- Phòng tránh: Cần tăng cường khâu chăm sóc; khi vịt 2 tháng tuổi trở lên tiêm mỗi con 2ml vắc- xin AgOH tả gia cầm vào cơ, hoặc tiêm 1ml vắc- xin sáp ong yếu vào cơ.

- Trị bệnh:

+ Cho 0,5% Enrofloxacin hòa vào nước, dùng liên tục trong 6- 8 ngày.

+ Dùng Chloromycetin tiêm vào cơ, tùy theo mỗi kg cân nặng tiêm 20mg, hoặc dùng 2g Oxytetracycline ta hòa với thức ăn/ mỗi kg cân nặng cho vịt ăn.

+ Dùng 20- 30mg Olaquindox cho mỗi kg cân nặng, mỗi lần uống 1 ngụm
 

10. Bệnh viêm tụy


- Nguyên nhân: Bệnh viêm tụy phần nhiều bùng phát trên vịt nuôi thịt khoảng 20- 30 ngày tuổi và vịt trưởng thành từ 50- 90 ngày tuổi; nguyên nhân của bệnh là do mất cân bằng về dinh dưỡng, hoặc chuyển hóa gây nên.
- Triệu chứng: Vịt có biểu hiện chân mềm, đi lại khó khăn, không muốn xuống nước, tiêu chảy và sau 3- 5 ngày thì chết.

- Khám nghiệm: Tuyến tụy sưng to, xung huyết, có màu phấn hồng và màu xanh nhạt.

- Phòng tránh: Hòa tan 50g thuốc chữa viêm tuyến tụy với 25- 50kg nước, dùng liên tục từ 3- 5 ngày; đồng thời cho uống 15% Norfloxacin hòa tan trong nước (50g + 50kg nước); ngoài ra cần chú ý chăm sóc tốt cho đàn vịt. Trong thức ăn cần bổ sung Vitamin A,D trộn với dung dịch Vitamin B, Methionin, nguyên tố vi lượng… nhằm cung cấp dưỡng chất một cách đầy đủ và toàn diện cho đàn vịt.
 

11. Bệnh phó thương hàn


Là bệnh truyền nhiễm cấp tính hoặc mãn tính ở vịt từ 1- 15 ngày tuổi; khi bị bệnh, vịt bị tiêu chảy, viêm kết mạc, gầy sút, tỷ lệ chết từ 70- 80%. Bệnh có ở cả gà, ngan, ngỗng; nếu ăn thịt vịt bị bệnh mà nấu chưa chín có thể sẽ lây bệnh sang cả người.

- Nguyên nhân: Do vi trùng Samonella Typhimurium gây ra, nhiễm qua đường tiêu hóa do thức ăn, nước uống nhiễm trùng. Vịt khỏi bệnh vẫn mang mầm bệnh, bài tiết ra ngoài sẽ gây bệnh; trứng có thể cũng bị nhiễm bệnh nên khi ấp thường chết phôi.

 Vi trùng Samonella có thể xâm nhập vào trứng qua lớp vỏ do bẩn. Trong chất độn chuồng, vi khuẩn này tồn tại khá dài ở những ổ nhiễm bệnh đến 30 tuần; trong phân đến 28 tuần; trong nhà kho, trạm ấp có thể tới 5 năm; ngay cả vỏ trứng trong máy ấp cũng tồn lưu khoảng 3- 4 tuần.

Đường truyền bệnh quan trọng nhất là trực tiếp qua trứng. Loại vi trùng Samonella này có lông roi, có thể di động và xuyên qua vỏ trứng khi để trứng ở ổ đẻ có nhiễm khuẩn.

- Triệu chứng: Vịt từ 3- 15 ngày tuổi thường bị bệnh nhiều ở thể cấp tính, vịt lớn 45 ngày tuổi trở lên thường bị thể mãn tính.

Khi bị bệnh, vịt bị tiêu chảy, phân loãng có bọt khí, lông hậu môn dính, đi lại ít, thường tách khỏi đàn tụ tập thành nhóm tìm chỗ ấm; vịt khát nước, mệt mỏi, ủ rũ, mắt nửa nhắm nửa mở, hoặc nhắm hẳn do viêm màng kết mạc có mủ, cánh sã xuống, lông mất độ bóng mượt, vịt bỏ ăn. Bệnh có chứng thần kinh ở dạng lên cơn, lúc đó vịt thường lăn quay ra, run rẩy hai chân, đầu ngoẹo. Đặc biệt, trước khi chết, vịt nằm ngửa, chân co giật trên không; bệnh kéo dài 3- 4 ngày, tỷ lệ chết trên 70%.

- Khám nghiệm: Gan và ruột sưng, rìa gan dày lên, trên màng có fibrin (sợ tơ huyết) có hoại tử thành nốt tròn nhỏ màu vàng trắng; lách sưng, có nốt hoại tử, túi mật sưng căng đầy mật. Ở thể cấp tính, trong lòng ruột non có chứa dịch đục, màng niêm mạc phù thủng, từng chỗ bị xung huyết và xuất huyết viêm; có trường hợp viêm đầu gối, túi khí, màng tim.

- Phòng chữa bệnh: Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, thực hiện đầy đủ công tác vệ sinh thú y, nhất là ổ đẻ, chất độn phải sát trùng bằng focmalin, nhặt trứng ngay sau khi đẻ, giữ vệ sinh thức ăn, nước uống.

Trộn thuốc furazolidon (liều phòng cho vịt đến 2 tuần tuổi) 100g/tấn thức ăn, sau 2 tuần tuổi 50g/tấn, liều chữa 150g/tấn, chữa cho từng con 50mg/con.

Đối với vịt con mới nở, dùng Typhomicin hay biomycin (liều phòng 4mg/con/ngày thuốc Typhomicin; 4- 5mg/con/ngày thuốc biomycin).
 

12. Bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm


 Bệnh xẩy ra ở mọi lứa tuổi của vịt, bệnh thường không gây chết, nhưng kéo dài rất lâu nếu điều trị không dứt điểm.

- Nguyên nhân: Do các mầm bệnh gây nhiễm sau:

Mycoplasma: bệnh thường là kế phát, khi điều kiện ngoại cảnh thay đối như từ nắng chuyển sang mưa hay thời tiết lúc mưa dầm là điều kiện cho bệnh phát ra; bên cạnh đó , mật độ nuôi quá cao, điều kiện chuồng trại ẩm ướt, dinh dưỡng kém… làm giảm sức đề kháng của vịt dẫn đến gây ra bệnh. Mầm bệnh bài thải liên tục ra môi trường bên ngoài qua phân, dịch mũi, trứng, nhiễm vào thức ăn, nước uống làm cho bệnh lây lan dễ dàng hơn và việc ngăn chặn khó khăn hơn.

Vi khuẩn Staphylococcus hay Streptococcous: Loại vi khuẩn này thường gây bệnh trong điều kiện chăn nuôi thiếu nước sạch và vệ sinh không đảm bảo. Xoang mũi bị viêm nhiễm gây thành những ổ mủ trắng đục làm nghẽn đường hô hấp hai bên hốc mũi.

- Triệu chứng: Các dấu hiệu thường phát triển chậm trong đàn, nặng hay nhẹ tùy thuộc vào thời tiết và có thể kéo dài nhiều tuần.

Khi vịt bị nhiễm bệnh thì cổ rụt xuống, xù lông, mắt lim dim như buông ngủ, một số có triệu chứng như cảm cúm, sổ mũi, khó thở; nhiều con thở khẹt, ấn vào hai bên xoang mũi có dịch viêm chảy ra, lúc đầu trong sau đó đục và xám, có con khi thở nghe tiếng khò khè, hoặc há mỏ ra để thở. Một số bị chảy nước mắt và viêm kết mạc mí mắt, mi mắt dính lại, một số kết mạc hóa mủ, không thấy đường tìm thức ăn, có triệu chứng kém ăn, tiêu chảy, phân loãng màu trắng xanh hoặc trắng vàng. Nếu bệnh nặng, có biểu hiện co giật từng cơn và chết. Thời gian bệnh có thể kéo dài 5- 10 ngày, hoặc hàng tháng.

- Phòng bệnh: Hiện nay chưa có một loại vắc- xin hữu hiệu nào để phòng trị bệnh này, do đó vệ sinh phòng bệnh và chăm sóc tốt là phương pháp hiệu quả nhất. Có thể dùng kháng sinh như: Erlicovet, Genta- Colenro, Tylenro5 +5, Erco- sulfa, Vigentryl, Genroflox… pha vào nước uống hoặc trộn vào thức ăn theo định kỳ.

- Điều trị: Có thể dùng một trong các loại kháng sinh đặc trị  sau:

Kháng sinh bột trộn thức ăn hoặc cho uống

+ Elicovtt: Gói 50g cho 100kg vịt

+ Vimenro: 100ml pha vào 50- 70 lít nước uống

+ Coli- Norgent: 50g/150kg thể trọng

+ Vime Apracin: 50g/150kg thể trọng (hoặc 10g pha 3 lít nước uống)

+ Vime- Coam: 50g/150kg thể trọng (hoặc 10g pha 3 lít nước uống)

+ Doxyt: 50g/250kg thể trọng

Kháng sinh tiêm

+ Lincoseptryl: 1ml/3-5kg thể trọng (tiêm bắp, 1lần/ngày, liên tục 3- 5 ngày)

+ Vime Spiro FSP: 1ml/3- 5kg thể trọng (tiêm bắp, 1lần/ngày, liên tục 3- 5 ngày)

+ Vimetryl 100: 1ml/5- 8kg thể trọng (tiêm bắp, 1lần/ngày, liên tục 3- 5 ngày)

Bổ sung thêm các chế phẩm sau để tăng sức lực cho đàn vịt:

+ Vime C Electrolyte: 1g pha 1lít nước dùng liên tục 3 ngày

+ Vimix plus: Gói 100g pha 120 lít nước

+ Embavit số 2: Trộn 1kg với 400kg thức ăn.
                                                 ĐH tổng hợp


Tags
Tiêu điểm
Top