Kỹ thuật trồng cây Ngô năng suất cao nhất


Cây ngô được xem là một trong những cây ngũ cốc quan trọng và là loại cây lương thực quan trọng chỉ đứng thứ hai sau cây lúa. Ngô là cây ngắn ngày, sống được trên nhiều loại đất, nhưng cần có kỹ thuật trồng cây ngô đúng cách để cho năng suất cao nhất.
 

1. Đặc điểm nông học và yêu cầu ngoại cảnh
 

Ngô là cây ngày ngắn cần nhiệt độ ấm áp để phát triển. Ngô là cây tương đối kháng hạn, tùy giai đoạn sinh trưởng mà nhu cầu nước của ngô cũng khác nhau và cây sống được trên nhiều loại đất, tốt nhất là đất thịt hay thịt pha cát, xốp, giàu hữu cơ, thoáng và giữ nước tốt. Tuy nhiên, cần biết kỹ thuật trồng cây ngô đúng cách để cho năng suất cao nhất.
 
Là cây lương thực thích hợp loại khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới. Nhiệt độ thích hợp để ngô sinh trưởng và phát triển là 25-300C, dưới 130C cầy ngừng sinh trưởng và trên 350C cây sinh trưởng kém. Một cây ngô có thể bốc thoát từ 2 - 4 lít nước/ngày. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển 1 ha ngô bốc thoát khoảng 1800 tấn nước tương đương với lượng nước mưa khoảng 175mm.

Thời gian sinh trưởng của cây ngô từ 90-160 ngày tùy vào mùa vụ và từng loại giống. Thích hợp với đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ màu mỡ cao, dễ thoát nước, tầng canh tác dày, độ pH: 6-7. Ngô có thể trồng quanh năm trong đều kiện có đủ nước tưới. Mật độ trồng thích hợp đối với giống ngắn ngày mật độ từ 60-70 ngàn cây/ha, giống trung ngày 55-60 ngàn cây/ha và giống dài ngày 50-55 ngàn cây/ha. Giống phổ biến là các giống có thời gian sinh trưởng ngắn 90-105 ngày (thích hợp vùng đồng bằng) trồng 2-3 vụ trong năm và các giống trung ngày 115-120 ngày thích hợp các vùng cao trồng trên đồi dốc 1 vụ/năm. Giống bắp DK 9955 là giống ngô thích hợp cho tất cả các vùng miền (miền núi phía Bắc, Tây nguyên, đồng bằng, ...) và các vụ trồng trong năm.
 

2. Kỹ thuật canh tác


2.1. Sửa soạn đất: Công tác sửa soạn đất trồng cần đáp ứng các điều kiện cơ bản sau: Đất được cày sâu 15-20 cm, lớp đất mặt xốp để cây con dễ phát triển. Làm sạch cỏ và ngăn cỏ dại phát triển. Tiêu diệt côn trùng phá hại tiềm ẩn trong đất, trứng, ấu trùng và ký chủ của nó. Tạo độ xốp trong đất đủ thoáng để vi sinh vật hoạt động rễ cây dễ hô hấp. Tuy nhiên, có một số nơi, nông dân trồng không cần cày bừa đất. Ngô được trồng sau khi thu hoạch lúa, lúc đất còn ẩm và gieo thành hàng nhằm giảm chi phí canh tác, nhưng khó chăm sóc cây nên dễ làm giảm năng suất.
 
2.2.Chọn giống (tùy theo mục đích sử dụng): Trồng lấy trái ăn tươi: Chọn các giống thuộc nhóm bắp ngọt hoặc nhóm ngô nếp. Ngô Nù địa phương, sinh trưởng 60- 65 ngày, năng suất 2 tấn hột/ha. Ngô nếp lai MX2, MX4 Công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam, giống chỉ có 60-65 ngày là thu trái tươi, năng suất cao 11-13 tấn trái tươi/ha. Ngoài ra còn có ngô Nếp Nù siêu dẽo của công ty cổ phần DV Bảo vthực vật An Giang cũng được nhiều nông dân chọn để trồng.

2.3.Gieo và xử lý giống: Hạt giống có độ nẩy mầm cao >90%. Xử lý ht bằng thuốc sát khuẩn Captan, Dithane với nồng độ 2-3%o để diệt và ngừa nấm bệnh. Ht xử lý xong thường được gieo khô. Nhưng thường thì nông dân ngâm và ủ hột trước khi gieo. Lượng giống: 15-20 kg/ha. Cách gieo: Gieo theo hốc: 2-3 hột/hốc. Chỉ nên để tối đa 2 cây/hốc, nếu số cây /hốc nhiều sẽ cạnh tranh ánh sáng và dinh dưỡng làm cây phát triển không đồng đều. Khoảng cách giữa hàng với hàng 60-100 cm và khoảng cách cây với cây trên hàng là 20-40 cm tùy theo đặc tính giống. Nếu mật độ trồng quá thưa, cây phát triển tốt, cho trái to nhưng số ht/m 2 lại ít nên năng suất không cao. Trồng quá dầy cây sẽ phun râu trễ hơn bình thường từ 1-5 ngày làm hoa cái dễ bị thiếu phấn, ht bị lép, cây dễ  bị đỗ ngã, dễ bị sâu bệnh.

2.4.Chăm sóc : 
Tỉa dặm: khoảng 4-6 ngày sau khi gieo (cây con được 1 lá) phải dặm lại những nơi cây chết hoặc không mọc. Nhổ bỏ những cây yếu chừa lại đúng số cây/hốc đã định (1- 2cây/hốc). Diệt cỏ: trong 30 ngày đầu cây phát triển chậm và yếu ớt do đó phải chăm sóc kỹ và diệt cỏ dại để cây phát triển tốt. Nên làm cỏ bằng tay kết hợp vun gốc để giảm đổ ngã. Tránh lấy đất ở giữa 2 hàng bắp quá sâu làm ảnh hưởng rễ cây.
Tưới tiêu: Bắp cần nhiều nước giai đoạn nẩy mầm và trổ. Thiếu nước làm lá cây bị cuống lại ở bìa lá, lá héo và có những lằn nhăn song song theo chiều ngang phiến lá. Trong mùa nắng tưới nước 4-7 ngày/lần khi cây trổ. Nếu cây bị úng >24 giờ là năng suất giảm 30-50%. Mùa mưa cần tiêu nước nhanh.

Chú ý: Những ruộng giàu dinh dưỡng hoặc bón quá nhiều phân đạm giai đoạn cây con, ngô có hiện tượng đẻ nhánh từ thân chính nên loại bỏ những nhánh này. Nếu trồng ngô nếp cần cách ly (về không gian và thời gian) với ruộng ngô ngọt hay ngô vàng để đảm bảo chất lượng.


 

3. Kỹ thuật bón phân

 
Ngô có nhu cầu hút nhiều đạm, ka li và lân. Lượng dinh dưỡng cây lấy đi tùy thuộc vào năng suất. Để tạo ra được 1 tấn hạt ngô lượng dinh dưỡng cây ngô lấy đi từ đất: 22.3kg N; 8.2 kg P2O5 và 12.2 K2O. Lượng phân hao hụt để tạo ra 1 tấn hạt ngô là 33.9kg N; 14.5 kg P2O5 và 17.2 K2O. Tỷ lệ nhu cầu dinh dưỡng cây ngô là 1:0.35:0.45.

Ở bất kỳ loại đất nào, đối với ngô đạm (N) là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất. Cần bón phối hợp cân đối phân hữu cơ và phân vô cơ cho ngô vì phân hữu cơ ngoài tác dụng cung cấp một phần dinh dưỡng còn cải thiện tính chất vật lý của đất làm cây sinh trưởng tốt hơn. Trong trồng ngô cũng cần quan tâm bón thường xuyên các dạng phân chứa S như supe lân và sử dụng phân vi lượng Zn cho ngô để đảm bảo cho ngô năng suất cao, phẩm chất tốt. Trên đất nghèo dinh dưỡng như đất xám, đất cát cần bón nhiều lân và kali hơn đất phù sa, đất đỏ bazan. Trên đất bạc màu, đất xám, đất cát bón phân kali có tác dụng tăng năng suất rõ rệt.



Lượng phân bón cho ngô lai dao động từ 100 – 250 kg N, 40 – 70 kg P2O5 và 30 – 60 kg K2O/ ha. Đối với các giống bắp địa phương lượng phân đạm chỉ 50 - 100 kg N.  Để đạt năng suất ngô trên 6 tấn/ ha cần bón khoảng 150 kg N + 60 kg P2O5 + 100 kg K2O, chia làm các lần bón như sau.

Lượng phân bón cho 1ha như sau: Phân chuồng 10 tấn, NPK (30-9-9) 300-480kg, Supe Lân: 300 - 400kg, KCl 150-250kg, CanNiBo 120-150kg.

Bón lót

+ Phân chuồng: Bón toàn bộ phân chuồng với khối lượng 10 tấn/ha

+ Supe Lân: 300 - 400kg/ha; CanNiBo (15-26-0.2Bo): 120 - 150kg/ha; Kali Clorua: 20 - 30kg/ha.

(Trộn đều Supe lân, CaNiBo, Kali clorua + Trung, vi lượng trước khi bón lót)

Cách bón:có 2 cách bón lót như sau


+ Bón rải đều phân trên ruộng sau đó bừa kỹ: có ưu điểm là nhanh, đỡ tốn công nhưng phân không tập trung vào gốc, tác dụng của phân chậm, hiệu quả thấp.

+ Bón phân theo hàng: là hình thức bón phân sau khi làm đất xong, phân được rải xuống đáy rạch đã rạch trước thành hàng, rồi lấp nhẹ một lớp đất bột trước khi tra hạt giống. Bón theo cách này, phân được bón tập trung gần gốc ngô nên nhanh phát huy tác dụng nhưng tốn công và chậm. Nếu để hạt giống bị tiếp xúc trực tiếp với phân khoáng có thể gây xót hạt, thối mầm và chết.

 
           Bón thúc:

            Bón thúc lần 1: (Khi ngô có 4-5 lá thật)

+ Phân NPK (30-9-9): 120 - 180kg/ha); Phân Kali Clorua: 40 - 60kg/ha

Cách bón: Bón cách gốc 5 - 7cm, kết hợp xới xáo vun cao luống, sau khi bón phải lấp đất ngay. Nếu đất khô có thể hòa phân vào nước để tưới cho ngô.

+ Phun phân bón lá Agi-Gro Foliar Blend liều lượng 50 ml/16 lít (1 lít/ha), hoặc phân bón lá Hoàng Hổ-Si liều lượng 50ml/16 lít (1 lít/ha)  phun ướt đều cây.

    Bón thúc lần 2: (Khi ngô có 7 - 9 lá)


+ Phân NPK (30-9-9): 90 - 150kg/ha; Phân Kali Clorua: 40 - 80kg/ha

Cách bón: bón cách gốc 10 - 15cm, kết hợp xới xáo vun cao luống để tránh đổ cây hoặc hòa loãng vào nước để tưới cho ngô nếu đất khô.

    Bón thúc đợt 3: Lúc ngô xoắn nõn (10-15 ngày trước trỗ) tác dụng tốt cho quá trình phân hóa bắp và trỗ cờ.


+ Phân NPK (30-9-9): 90 - 150kg/ha; Phân Kali Clorua: 40 - 80kg/ha

Cách bón: bón cách gốc 10 - 15cm, bón trực tiếp vào đất, kéo đất vun lần cuối.


+ Phun phân bón lá Agi-Gro Foliar Blend liều lượng 50 ml/ 16 lít (1 lít/ha), hoặc phân bón lá Hoàng Hổ-Si liều lượng 50ml/16 lít (1 lít/ha)  phun ướt đều cây.
 

4. Phòng trừ sâu bệnh


4.1. Sâu đục thân: Phòng trị bằng cách khi thu hoạch xong nên cắt thân sát gốc, dọn sạch ruộng. Nếu trồng trong mùa mưa phải trng sớm đồng loạt. Sau vụ ngô nên luân canh với loại cây không phải là ký chủ của loài sâu này. Để phòng sâu đục thân rải Basudin hay Regent hạt vào  loa kèn khi ngô được 7-8 lá và trước khi trổ cờ. Áp dụng thuốc nước ngay lúc bướm đang đẻ trứng hay sâu tuổi nhỏ đang còn trong nách lá hay trong loa kèn của cây bắp còn non.

4.2. Rầy mềm: Phòng trị bằng cách không nên trồng ngô với mật độ dày tạo ẩm độ thích hợp cho rầy phát triển. Nếu mật số rầy ít không nên áp dụng thuốc vì rầy có nhiều thiên địch. Sử dụng các loại thuốc như: Applaud, Admire…

4.3. Sâu đục trái: Phòng trị bằng cách dùng giống kháng (giống có vỏ trái dày và che phủ cả trái), dùng tay giết chết sâu. Xịt các loại thuốc trừ sâu gốc cúc. Ngoài ra còn có những loại côn trùng sống dưới đất: sâu đất, sùng trắng, sùng bửa củi,…ngừa bằng cách sửa soạn đất kỷ, vệ sinh đồng ruộng và khử đất bằng các loại thuốc hột hay bột.

4. 4. Bệnh đốm lá: Phòng trị bằng các loại thuốc sát khuẩn Maneb, Zineb hay Copper – zinc, Appencarb…

4.5.Bệnh đốm vằn: Bệnh xảy ra khi trời nóng ẩm và nóng (có sương mù), lây lan rất nhanh, gây thiệt hại nặng. Phòng trị bằng Kitazin, Bonanza, Anvil, Rovral phun 3-7 ngày/lần lúc vừa phát hiện bệnh.

4.6. Bệnh rĩ: Đốm bệnh làm thành những u nhỏ màu vàng đỏ sau đó có màu nâu sậm như rĩ sét ở phiến lá. Bệnh xuất hiện khi trời nóng ẩm. Phòng trị bằng Zineb, Maneb, Copper.
 
                   ĐH tổng hợp (Nguồn: Congtyhai.com;npkdinh.com; agriviet)


Tags
Tiêu điểm
Top