Làm sao để thu hút nhân tài Việt?


Trọng dụng nhân tài là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển lên tầm cao mới qua các thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.




Trong tư tưởng và hành động của mình, Hồ Chí Minh cho thấy chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài là vô cùng cần thiết để cách mạng thành công; việc thu hút và trọng dụng nhân tài là một nội dung của công tác cán bộ. Để thu hút và trọng dụng nhân tài có kết quả, Đảng phải xem xét, kiểm tra việc thu hút và trọng dụng nhân tài để có chính sách hợp lý.

Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; mở cửa, hội nhập quốc tế. Để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, Đảng đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đề ra nhiều quan điểm và chủ trương đúng đắn về thu hút và trọng dụng nhân tài. Các cấp ủy và chính quyền từ Trung ương đến cơ sở luôn quan tâm thực hiện chủ trương này. Nhờ đó, thu hút và trọng dụng nhân tài đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

Các cấp tỉnh, thành ủy đã nhận thức rõ sự cần thiết thu hút và trọng dụng nhân tài trong điều kiện hiện nay, đã đề ra các chủ trương, giải pháp phù hợp với điều kiện của từng địa phương và tích cực chỉ đạo thực hiện. Nhiều tỉnh, thành phố đã thu hút được khá lớn nhân tài về làm việc với cơ cấu khá toàn diện. Sau 15 năm thực hiện chính sách thu hút nhân tài (1998-2013), thành phố Đà Nẵng thu hút được 1.043 nhân tài, trong đó có 696 nữ; 13 tiến sỹ, 224 thạc sỹ và 806 tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi, xuất sắc. Trong 10 năm (2003- 2013), thành phố Hà Nội đã tổ chức tuyên dương thủ khoa gắn với đẩy mạnh chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài. Trong 1.203 thủ khoa được vinh danh có 103 được tuyển thẳng vào làm việc ở các cơ quan của thành phố. Từ năm 2000 đến 2009, tỉnh Bắc Ninh đã thu hút 32 sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy tập trung loại giỏi, xuất sắc, 13 thạc sỹ, 1 tiến sỹ về làm việc tại tỉnh.

Tỉnh Ninh Thuận, từ năm 1999 đến 2012 thu hút được 24 cán bộ ngành y tế (1 tiến sỹ, 3 bác sỹ chuyên khoa I, 10 bác sỹ đa khoa và 10 cử nhân ngành y); 99 cử nhân ngành sư phạm; 5 cử nhân và 2 thạc sỹ các ngành khoa học.

Từ năm 2004 đến 2012, tỉnh Hà Nam thu hút được 148 người, gồm 117  cử nhân tốt nghiệp giỏi, xuất sắc; 31 thạc sỹ.

Tại Kết luận số 86-KL/TW ngày 24-1-2014 về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ, Bộ Chính trị khóa XI khẳng định: “Nhiều cơ quan ở Trung ương, địa phương và doanh nghiệp đã xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể về tuyển chọn, đào tạo, đãi ngộ nhằm thu hút những người có trình độ cao, trong đó có sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ về cơ quan, đơn vị, địa phương công tác”.

Nhân tài được thu hút về các địa phương làm việc, nhìn chung có chất lượng tốt, phát huy được tác dụng và có đóng góp cho sự phát triển chung từng địa phương.Theo đánh giá của tỉnh Ninh Thuận, mặc dù số lượng chưa nhiều nhưng đó là “tiền đề rõ nét để thúc đẩy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần hoàn thiện mô hình của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ mới”.

Tỉnh ủy Hà Nam nhận định: “Các đồng chí về địa phương công tác nhờ chính sách thu hút… đều được đánh giá cao, đều là cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên”.

Bộ Chính trị khẳng định: “Nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, loại xuất sắc từ các cơ sở đào tạo trong nước và ngoài nước đã được tuyển dụng làm công chức, viên chức không qua thi tuyển; phần lớn đã được bố trí công tác phù hợp với trình độ, chuyên môn, phát huy tốt năng lực, sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ và được bổ sung vào quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, trở thành những cán bộ, công chức, viên chức chủ chốt trong các cơ quan, đơn vị và những chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực”.

Các tỉnh, thành ủy luôn quan tâm, gần gũi, tạo thuận lợi về điều kiện, môi trường làm việc như: chính sách tiền lương, phụ cấp, trợ cấp; nhà ở; môi trường làm việc dân chủ; bố trí cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, làm việc của nhân tài… Mức hỗ trợ cao nhất (của Hà Nội, Cà Mau...) cho tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư lên tới trên nửa tỷ đồng. Thành phố Đà Nẵng hỗ trợ 15 triệu đồng, trợ cấp lương hàng tháng 1,5 triệu đồng, thuê nhà chung cư giá rẻ cho nhân tài được thu hút; thành phố Hà Nội có nhiều ưu đãi cho thủ khoa về làm việc như hỗ trợ một lần bằng 5 lần mức lương tối thiểu hàng tháng với đào tạo trong nước, khi các em có bảo vệ luận văn được gấp 30 lần lương tối thiểu, bảo vệ luận án tiến sỹ được 80 lần lương tối thiểu.

Các tỉnh, thành ủy quan tâm bố trí sử dụng hiệu quả nhân tài, đồng thời chống các biểu hiện của bệnh cục bộ, kèn cựa, gây khó khăn đối với nhân tài trong công việc. Nhiều nhân tài đã được quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý phù hợp với năng lực, sở trường và nhu cầu cán bộ trong từng giai đoạn. Nhiều địa phương đã tổ chức thi tuyển một số chức vụ lãnh đạo, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng để nhân tài có thể tham gia và cống hiến như tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng. Trong 1.043 nhân tài thu hút của thành phố Đà Nẵng có 827 trường hợp hiện đang công tác trong các sở, ngành có 138 vị trí được bổ nhiệm chức vụ từ phó trưởng phòng đơn vị trực thuộc sở ngành trở lên. Trong số này có 7 giám đốc, phó giám đốc và tương đương cấp sở. Chính nguồn lực này đã góp phần trẻ hóa đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, bổ sung nguồn nhân lực có trình độ, năng lực, dám nghĩ dám làm, góp phần vào sự phát triển của thành phố…

Tỉnh ủy Hà Nam đánh giá: “Các đồng chí về địa phương công tác nhờ chính sách thu hút đã được các cơ quan, đơn vị sắp xếp phù hợp với chuyên ngành đào tạo, phù hợp với năng lực, sở trường công tác và phần đông đều yên tâm công tác tại địa phương, đơn vị

Tuy nhiên, việc thu hút và trọng dụng nhân tài vẫn còn một số hạn chế, yếu kém:

Chưa có tiêu chí thống nhất về xem xét, đánh giá, sử dụng nhân tài. Một số nơi nhấn mạnh về bằng cấp, có lúc nhấn mạnh về cơ cấu, về độ tuổi; có địa phương chỉ thu hút những sinh viên tốt nghiệp khá, giỏi, xuất sắc từ các trường công lập; việc thu hút nhân tài chủ yếu chỉ tập trung cho hệ thống chính trị, chưa quan tâm cho khối doanh nghiệp; chưa đánh giá, phân loại về trình độ, sở trường của nhân tài để tiếp tục định hướng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài.

Số lượng nhân tài thu hút được ở các địa phương chưa đồng đều và chưa bền vững.

Trong 3 năm (2009 - 2012), tỉnh Tây Ninh chỉ thu hút được 6 bác sĩ về công tác tại địa phương. Tỉnh Bình Dương sau hơn 10 năm, thu hút được một tiến sỹ (14[1]). Thành phố Hà Nội có nhiều ưu đãi về thu hút và trọng dụng nhưng số lượng nhân tài thu hút vẫn còn khá khiêm tốn, số sinh viên thủ khoa về làm việc cho thành phố chỉ đạt 103/1.203, chiếm 8,5% số được vinh danh trong 10 năm.

Năm 2012, tỉnh Quảng Bình chỉ tuyển dụng được 12/84 người cần thu hút theo kế hoạch, chiếm 14,2%, gồm 8 thạc sỹ, 2 sinh viên tốt nghiệp đại học xuất sắc, 1 thủ khoa ở trong nước và 1 sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi học ở nước ngoài. Trong số đó có hai người từ chối nhận công tác.

Chính sách thu hút nhân tài nhìn chung chưa đủ sức thu hút mạnh mẽ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ vào làm việc trong hệ thống chính trị của các địa phương. Tỉnh Ninh Thuận đánh giá “Việc áp dụng thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, các nhà khoa học trẻ về địa phương công tác còn chưa kịp thời; chưa đảm bảo việc hỗ trợ đầy đủ về cơ sở vật chất để đối tượng thu hút an tâm công tác”, “Chưa có chính sách, chế độ khuyến khích đồng bộ, thỏa đáng về tiền lương, nhà ở…”; tỉnh Ninh Bình cho rằng: “chưa có những chính sách đồng bộ, xuyên suốt nhằm đánh giá, sử dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với những người được thu hút”.

Một số địa phương còn lúng túng, bị động trong sử dụng và định hướng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân tài. Bên cạnh đó là tư tưởng hẹp hòi, định kiến của một số cán bộ lãnh đạo vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài của Đảng. Kết luận số 86 của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Một số thu hút được thì còn lúng túng, bị động trong bố trí, sử dụng; có nơi còn tư tưởng hẹp hòi, định kiến, không mạnh dạn đề bạt cán bộ trẻ, dẫn tới cán bộ không yên tâm công tác, thiếu tập trung suy nghĩ nghiên cứu, không phát huy được hết năng lực, sở trường, gây lãng phí nguồn lực, phát sinh dư luận không tốt về chủ trương sử dụng nhân tài của Đảng và Nhà nước”.

Để tiếp tục chủ trương thu hút, trọng dụng nhân tài trong giai đoạn hiện nay, Đại hội XI đã nêu những quan điểm chỉ đạo: “Muốn tạo nên một tập thể vững mạnh, phải xây dựng từng con người, quan tâm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài”; “Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”; “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”; “Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”.  Chủ trương thu hút, trọng dụng nhân tài của Đảng được cụ thể hóa thành mục tiêu tại Kết luận số 86 của Bộ Chính trị: “Phấn đấu đến năm 2020, thu hút ít nhất 1.000 sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và cán bộ khoa học trẻ (tiến sỹ khoa học không quá 35 tuổi, tiến sỹ không quá 32 tuổi, thạc sỹ không quá 28 tuổi, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc không quá 25 tuổi) vào các lĩnh vực công tác của cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội từ Trung ương đến cấp huyện; các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước; lực lượng vũ trang và doanh nghiệp nhà nước”. Để đạt được các mục tiêu trên cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút và trọng dụng nhân tài, từ đó đề cao trách nhiệm của các cấp ủy. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết từ cán bộ lãnh đạo, quản lý, từ cán bộ đứng đầu cấp ủy, chính quyền về tiêu chí đánh giá nhân tài, vai trò của nhân tài và ý nghĩa trọng dụng nhân tài phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Hồ Chí Minh đã chỉ rõ người tài đức là người “có thể làm những việc ích nước lợi dân”, là “những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất”. Nhân tài là người phải có đức, tài và “đức là gốc”. Các cấp thành ủy khẩn trương cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 86 của Bộ Chính trị: “Đối với nhân tài đặc biệt, cấp uỷ, tổ chức đảng ở Trung ương và địa phương có trách nhiệm chủ động phát hiện, đề xuất với cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh”. Cần nghiên cứu kỹ nhu cầu theo vị trí việc làm và dự báo nhu cầu của địa phương trong thời gian tới để tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, coi trọng việc sử dụng hiệu quả gắn với bồi dưỡng và phát triển nhân tài một cách bền vững; kiên quyết không chạy theo phong trào, không thu hút theo kiểu ban ơn.

Thứ hai, đổi mới đánh giá đội ngũ trí thức, coi trọng và thường xuyên xem xét, đánh giá nhân tài để có chủ trương, giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng nhân tài. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút, trọng dụng nhân tài hiện nay, cần đổi mới đánh giá trí thức, nhân tài, khi đánh giá không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe, cần có thái độ khách quan, độ lượng. Coi trọng và thường xuyên đánh giá đúng về năng lực, phẩm chất của nhân tài để bồi dưỡng, phát triển nhân tài và sàng lọc nhân tài. Đánh giá đúng nhân tài góp phần sử dụng, phát huy tốt được sở trường của mỗi nhân tài theo phương châm dùng nhân tài cần phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”. Ngoài ra, đánh giá đúng giúp lãnh đạo kết hợp trí tuệ của mỗi nhân tài, bổ khuyết cho sự thiếu hụt của nhân tài khác để nâng tầm trí tuệ của tập thể. Do đó, cầnđịnh kỳ sau một thời gian nhất định (hằng năm, 5 năm, 10 năm...) tiến hành đánh giá hiệu quả đóng góp, xu hướng phát triển của mỗi người để điều chỉnh một số mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản giao cho từng nhân tài theo hướng tăng dần áp lực, kích thích sự phấn đấu, vươn lên. Bước vào công cuộc đổi mới, Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ: “Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát, mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu. Nhiều tài năng có thể mai một nếu không được phát hiện và sử dụng đúng chỗ, đúng lúc. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải tuân theo một quy trình chặt chẽ. Đó là kết hợp giữa bồi dưỡng kiến thức ở các trường học với rèn luyện trong thực tiễn. Phải căn cứ vào chỗ mạnh, chỗ yếu và triển vọng phát triển của cán bộ mà mạnh dạn bố trí vào những cương vị công tác phù hợp, sau đó, liên tục theo dõi, kiểm tra, bồi dưỡng, tạo điều kiện cho họ trưởng thành”.

Thứ ba, thu hút và trọng dụng nhân tài là một nghệ thuật. Do đó, cấp  ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy cần tuân thủ quan điểm của Đảng, đồng thời cần khéo léo trong thu hút và trọng dụng nhân tài. Để đạt được điều đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đổi mới phong cách lãnh đạo. Người viết: “Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo”, “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ...”.

Thứ tư, cùng với việc hỗ trợ về tài chính, cần đặc biệt quan tâm, tạo môi trường và điều kiện làm việc thuận lợi để nhân tài phát huy tài năng, cống hiến cho địa phương, đất nước. Thực tế cho thấy, thu hút và trọng dụng nhân tài, nếu tuyệt đối hóa ưu đãi về tài chính, lợi ích vật chất, xem nhẹ việc tạo môi trường làm việc dân chủ, tôn vinh sự đóng góp, cống hiến của nhân tài... thì việc thu hút và trọng dụng nhân tài khó có thể đạt hiệu quả như mong muốn; thậm chí người tài đã thu hút được sẽ rời khỏi địa phương. Do đó, cùng với những ưu đãi về vật chất, cần coi trọng tạo lập môi trường cho nhân tài làm việc. Đó là, đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng không khí làm việc thân thiện, minh bạch, dân chủ và chế độ thông tin kịp thời; sự quan tâm, gần gũi của người lãnh đạo quản lý; chính sách tôn vinh, khen thưởng kịp thời, xứng đáng với đóng góp của nhân tài. Trong đó, thực hành dân chủ rộng rãi trong cơ quan có ý nghĩa rất quan trọng: “...Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Đại hội XI của Đảng yêu cầu: “Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì sự phát triển của đất nước”. Thực tế cho thấy, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng đã khá thành công trong việc thu hút và giữ chân nhân tài.

Thứ năm, đấu tranh kiên quyết, có hiệu quả bệnh kéo bè, kéo cánh, bệnh dùng người thân quen, bệnh hẹp hòi trong thu hút và trọng dụng nhân tài. Theo Hồ Chí Minh, những bệnh nêu trên cản trở rất lớn và rất nguy hiểm đối với việc thu hút và trọng dụng nhân tài: “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa... Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình”Bệnh dùng người thân quen, bệnh hẹp hòi cũng rất nguy hiểm, cản trở lớn việc thu hút và sử dụng nhân tài. Người nhấn mạnh: “Chớ vì bà con bầu bạn mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình”, “Vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi”. Hiện nay, ở một số địa phương, những bệnh nêu trên đang có xu hướng phát triển, là một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế kết quả thu hút và trọng dụng nhân tài, cần được sửa chữa, ngăn chặn kịp thời. Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt đang đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng chiến lược nhân tài quốc gia, tạo thành chủ trương, cơ chế thống nhất để thu hút, trọng dụng, bồi dưỡng và phát triển nhân tài. Đồng thời, các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương xuống cơ sở cần thu hút, trọng dụng nhân tài. Đó là một giải pháp căn bản  của sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong Đại hội tài năng trẻ lần 2, phó giáo sư trẻ nhất nước năm 2013 Lê Anh Vinh (Đại học Quốc gia Hà Nội) trăn trở làm cách nào để thu hút, trọng dụng nhân tài khoa học. Trong bài phát biểu, anh đưa ra những con số thống kê về nhân lực khoa học, công nghệ và đánh giá, xét về hiệu quả thì Việt Nam chưa có công trình, sản phẩm khoa học nào mang tính đột phá ở tầm khu vực. Trong giai đoạn 2008-2012, số bài báo, công trình khoa học công bố quốc tế của Việt Nam kém Thái Lan 4 lần, kém Singapore 7 lần, kém Nhật Bản 57 lần, kém Mỹ 256 lần. Trong 10 năm (2001-2010), số đơn đăng ký của người Việt là 1.665, chỉ có 257 bằng độc quyền sáng chế được cấp, kém 27 lần so với số văn bằng được cấp của người nước ngoài.
 


PGS Lê Anh Vinh cho rằng, để thu hút nhân tài cần sự thay đổi ở chính bản thân nhà khoa học lẫn cơ chế, chính sách của nhà nước. Ảnh: Giang Huy.


"Dựa vào vài con số, có thể thấy vai trò của các nhà khoa học, nhất là khoa học trẻ đối với nền khoa học công nghệ nước nhà chưa thực sự đậm nét", anh nhấn mạnh và đặt câu hỏi làm thế nào để thu hút, trọng dụng và phát huy tài nguyên trí tuệ của đội ngũ nhà khoa học trẻ Việt Nam?

Phó giáo sư Vinh cho rằng, trước hết nguyên nhân xuất phát "từ chính chúng tôi". Nhiều nhà khoa học trẻ trăn trở tìm hướng đi, nhưng việc thừa nhiệt huyết, thiếu kinh nghiệm khiến một số thể hiện bằng phản ứng tiêu cực, dành nhiều thời gian ca thán và so sánh về điều kiện môi trường làm việc. Môi trường làm việc mang nghĩa rộng bao gồm từ cơ sở vật chất, tài chính đến hoạt động học thuật và cộng đồng nghiên cứu. "Chảy máu chất xám, có thể thấy lợi ích vật chất không phải là lý do cơ bản. Lý do chính mà nhiều nhà khoa học từ khắp nơi sang Mỹ làm việc vì ở đó có đồng nghiệp, những người có cùng mối quan tâm. Họ được bao bọc bởi môi trường làm việc học thuật, phát huy được tối đa khả năng sáng tạo, năng lực nghiên cứu. Nhiều du học sinh bày tỏ quan điểm mong muốn về nước làm việc, đóng góp nhưng lại lo lắng về môi trường làm việc không phù hợp", anh cho hay.

Theo anh Vinh, các nhà khoa học trẻ không thể yêu cầu trường đại học, viện nghiên cứu phải có cơ sở vật chất hoàn hảo, kinh phí, ngân sách dồi dào thì mới làm khoa học mà trước hết phải đóng góp tích cực tạo ra môi trường nghiên cứu phù hợp.

Về phía nhà nước, nếu đã thực sự coi các nhà khoa học trẻ là nguồn lực quan trọng thì cần có lộ trình cụ thể về chính sách và chế độ tương xứng với năng lực làm việc của nhà khoa học. Việc thu hút nhân tài trình độ cao gặp nhiều khó khăn bởi nguồn tài chính có hạn, trang thiết bị, môi trường học tập chưa năng động.

Hiện, Đại học Quốc gia Hà Nội nơi anh Vinh làm việc đã có mô hình CLB Nhà khoa học là nơi kết nối, tạo cơ hội tiếp cận chương trình nghiên cứu trọng điểm cho nhà khoa học trẻ tại đây. Trung ương Đoàn có thể xem xét xây dựng một cơ quan chuyên trách cấp trung ương, hỗ trợ thông tin, giúp định hướng cho nhà khoa học trẻ trên cả nước.

Theo Phó Giáo sư Vinh, nhà nước cũng cần dùng tài chính đúng mức, đúng trọng điểm cho khoa học công nghệ. Nghiên cứu hiện nay chủ yếu được tài trợ bởi Chính phủ, nghiên cứu tại trường đại học đang bị bỏ ngỏ. Các nước phát triển đều dành một phần ngân sách cho hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường đại học. Mỹ dùng 16,8% chi tiêu chính phủ cho khoa học công nghệ thông qua hệ thống giáo dục. Ở Đức, con số là 17,1% và ở Anh là 22,6%. Trong khi đó, ở Việt Nam là 2%, nhưng nếu xét về giá trị tuyệt đối thì còn khá thấp. Tổng đầu tư toàn xã hội cho khoa học, công nghệ của Việt Nam ước tính chỉ đạt dưới 1% GDP, so với mức trung bình thế giới là 2,1%.

Việc đầu tư dàn trải dẫn đến sản phẩm khoa học bị trùng lặp, thiếu tính sáng tạo, giá trị kinh tế thấp. Để khắc phục thì cần nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường đại học, viện nghiên cứu trọng điểm và những lĩnh vực được ưu tiên.

Một điểm nữa, cần thay đổi cơ chế quản lý tài chính bất cập trong xét duyệt, nghiệm thu đề tài các cấp, một trong những rào cản của phát triển khoa học. "Các nhà khoa học vẫn thường cho rằng cơ quan quản lý không hiểu hay chưa tin nhà khoa học nên đưa ra những cơ chế không phù hợp với thực tiễn?", anh đặt câu hỏi.

Làm sao để thu hút nhân tài cũng là trăn trở của Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân. Tiếp xúc với 67 gương mặt trí thức, đại diện cho tài năng khoa học trẻ Việt Nam, Bộ trưởng đã nêu ra ba câu hỏi vì sao, mong được giải đáp. Một là, vì sao người Việt có trí tuệ, học tập không thua kém các dân tộc khác nhưng đất nước lại không phát triển nhanh như kỳ vọng? Hai là, vì sao những người giỏi, đặc biệt là những người giỏi và trẻ lại không tham gia nhiều vào hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước trong khi nhà nước rất cần người tài để xây dựng cơ chế chính sách? Và cuối cùng, vì sao nhiều người giỏi đi học ở nước ngoài lại không muốn về nước?

HL - Tổng hợp
 



Tags
Tiêu điểm
Top
Bình chọn Quả Cầu Vàng 2019 [X]