Quy trình sản xuất chè an toàn theo Vietgap


Phần 1: QUY TRÌNH VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT

1. Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất

Tùy theo điều kiện cụ thể để lựa chọn quy mô hợp lý cho vùng sản xuất, khu sản xuất tập trung, nên đảm bảo các điều kiện sau:

- Đồi chè có độ dốc bình quân hợp lý (nếu độ dốc quá cao sẽ khó khăn cho việc trồng trọt, thu hái và thực hiện các biện pháp quản lý tổng hợp), dồi dào nước ngầm, mùa mưa thoát nước nhanh không bị úng. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm từ 18- 25 độ C; ở khoảng nhiệt độ này cây chè sinh trưởng khỏe, tính chống chịu tốt, thuận lợi quản lý cây trồng tổng hợp. Độ ẩm không khí trung bình năm trên 80%; lượng mưa trung bình trên1.200mm/năm.
 

- Nguồn nước, đất và không khí không bị nhiễm độc chất hóa học và VSV; cần xem xét kỹ nguồn nước sử dụng có nguy cơ bị ô nhiễm hay không, nếu có thì phải có biện pháp ngăn ngừa hiệu quả; đặc biệt là sự ô nhiễm tiềm ẩn từ những dòng chảy, ống cống và khí thoát từ ống khói nhà máy. Xây dựng được các hồ đập giữ nguồn nước mặt, tạo nguồn nước tưới và giữ ẩm trong mùa khô.

- Trong trường hợp vùng sản xuất bị ô nhiễm bất khả kháng, thì không nên tiến hành sản xuất chè.

2. Giống chè

Tìm hiểu để sử dụng các giống chè mới có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu tốt, nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Các giống được trồng là giống đã được cấp quản lý có thẩm quyền cho phép phát triển. Mỗi vùng sản xuất nên cơ cấu giống địa phương với các giống mới một cách hài hòa tùy theo từng vùng.

Hiện nay, các giống mới LDP1, LDP2, PH1, Shan chất tiền, Shan tham vè, Phúc vân tiên, Kim tuyên, PT95 phù hợp cho vùng thấp; các giống Shan chất tiền, Shan tham vè, Kim tuyên, Thúy ngọc phù hợp cho vùng cao; giống TRI 777 cho vùng chè Thái Nguyên để chế biến chè xanh chất lượng cao. Người trồng chè tìm hiểu kỹ lý lịch và đặc điểm của từng giống để lựa chọn cho phù hợp với điều kiện sản xuất và thị trường tiêu thụ.

Mật độ trồng: Các giống chè thân gỗ (chè Shan, PH1…) trồng với mật độ 1,5- 1,8 vạn cây/ha, trồng hàng đơn. Các giống chè thân bụi hoặc nửa bụi (Kim tuyên, LDP1…) trồng mật độ từ 1,8- 2,8 vạn cây/ha, có thể trồng hàng kép. Xu hướng trồng là thu hẹp hàng, giãn cây.

3. Quản lý đất

Đất trồng chè phải được quản lý và sử dụng theo hướng độ phì nhiêu của đất ngày càng tăng và ngăn ngừa mọi khả năng ô nhiễm. Theo đó cần chú trọng canh tác như sau:

Hàm lượng chất hữu cơ trong đất là yếu tố quan trọng duy trì độ phì nhiêu và kết cấu của đất. Đảm bảo đủ lượng hữu cơ trong đất sẽ ngăn chặn được xói mòn, làm cho đất luôn tươi xốp, chất dinh dưỡng ngày càng tăng; trên cơ sở đó cây chè sẽ sử dụng nước có hiệu quả; vì thế, hạn đối với chè hầu như không xẩy ra. Đất chè nên được duy trì hàm lượng mùn tổng số 2,0% trở lên.

Chất hữu cơ trong đất chè được duy trì trước tiên từ cành, lá chè đốn giữ lại hàng năm và được làm giàu hơn bằng nguồn bổ sung qua việc tủ gốc cho chè từ thân lá thực vật không bị nhiễm bẩn, lá rụng, cành tỉa của các loại cây che bóng, cây trồng xen thời kỳ chè KTCB, tốt nhất là các loại cây có hàm lượng dinh dưỡng cao.

* Nguồn vật chất hữu cơ cho đất chè:
Giữ lại cành lá chè đốn (nương chè năng suất 10 tấn/ha có thể cho lượng cành lá đốn 10 tấn/ha), không nên dùng cành lá chè đốn làm củi đun nấu.

Trồng cây che bóng để bổ sung nguồn lá rụng và hàng năm cắt tỉa cây che (chàm lá nhọn, muồng Cassia- muồng đen…).

Tủ gốc bằng tế guột, rơm rạ, trồng cỏ Ghi nê… lượng tủ 20 tấn/ha, 3- 5 năm tủ một lần.

Thời kỳ chè mới trồng cần đặc biệt lưu ý trồng xen cây họ đậu (lạc, đỗ…), cây có khả năng cải tạo đất cho lượng chất xanh lớn (cốt khí, chàm lá nhọn…); cây cốt khí trồng xen có thể cho 30- 40 tấn/ha nếu được đầu tư tốt.

Đối với việc phát triển vùng chè mới cần có kế hoạch cải tạo đất 2 năm trước khi trồng từ cây cốt khí, cỏ Ghi nê, lạc dại và các loại rau đậu.

Chè sinh trưởng tốt trong khoảng pH từ 4- 5,5; do đó trong quá trình canh tác luôn kiểm tra pH để kịp thời điều chỉnh. Nếu pH cao cần sử dụng phân bón có chứa lưu huỳnh; nếu đất trở nên quá chua (pH < 4) có thể sử dụng vôi vào thời gian đốn với lượng 2-3 tấn/ha; tốt nhất là nên sử dụng vôi dolomitic (vôi có chứa magiê và các bonat).

Không trồng chè trên những vùng đất có pH >5,5; đất có pH cao thì sự sinh trưởng của cây rất kém, lá cây bị héo và rễ bị sùi.

Có thể chuẩn đoán pH thích hợp trong quá trình canh tác qua quan sát sự sinh trưởng của cây và sự có mặt của các cây chỉ thị. Nếu cây chè phát triển khỏe mạnh và có mặt các cây họ sim, mua xung quanh vườn chè thì đó là đất có độ pH thích hợp.

* Xói mòn đất chè:
Xói mòn đất có thể xẩy ra rất mạnh nếu không có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu; điều quan trọng là phải duy trì độ che phủ trên mặt đất bằng cây trồng lâu năm và cây chè được coi là cây chống xói mòn hữu hiệu đối với đất dốc. Tuy vậy, mưa lớn vẫn có thể dẫn đến xói mòn đất ở vùng trồng chè, nhất là ở những vị trí không có cây chè (đường đi, khu giao nhau của các con đường, các khoảng trống…), cũng như thời gian chuẩn bị trồng mới, hoặc thời kỳ chè mới trồng chưa khép kín tán.

Cần lưu ý là độ pH từ 4,5- 5,5 chỉ một giai đoạn ngắn, nếu mặt đất không được bao phủ chất hữu cơ, nước có thể làm bí đất và những thực vật kém phát triển có thể làm hỏng cấu trúc đất.

* Khống chế xói mòn đất:
Nhất thiết phải trồng chè theo những đường đồng mức, tạo độ nghiêng một cách đáng kể, đặc biệt những vùng có độ dốc cao >20 độ cần trồng cỏ Ghi nê hàng đơn, hoặc dứa Cayen; cứ sau 10 hàng chè có thể trồng phụ 1 hàng ở đường đồng mức. Cần đào những rãnh phù sa (toàn bộ hoặc cục bộ) ở bất cứ độ dốc nào để cản nước chảy và giữ nước. Thiết kế và đào những rãnh phù sa phải được để ý và suy xét tới sự an toàn trong quá trình chăm sóc và thu hái.

Ở tất cả các vị trí mà sự xói mòn đất cục bộ xẩy ra khốc liệt, cần phải thực hiện sự ngăn cản bằng tất cả các biện pháp hữu hiệu nhất (trồng cỏ, đào rãnh ngăn, trồng cây to chắn phía trên…).

Phải thật chú ý đến việc xây dựng những con mương thoát nước, những con mương này cần cắt ngang dòng chảy, chặn các dòng chảy, làm lưu lượng nước chảy chậm lại để làm giảm sự xói mòn. Nên trồng các loại cỏ thích hợp dọc theo những con mương để cản nước và xói mòn đất trước khi nước chảy vào mương.

Che phủ đất: Trên vùng chè chuẩn bị trồng mới, trước khi trồng chè cần trồng cây che phủ ngay sau khi làm đất. Lựa chọn các cây che phủ thích hợp, cây họ đậu, cây cỏ có thể dùng làm thức ăn cho gia súc, cốt khí, chàm lá nhọn… Vườn chè mới trồng cần được trồng xen cây họ đậu và tủ gốc bằng rơm rạ, hoặc cỏ khô. Ngoài ra, kỹ thuật trồng chè mật độ dày, hàng kép đối với các giống hạn chế mở rộng tán sẽ làm giảm xói mòn rất có ý nghĩa.

Chú ý: Không chăn thả gia súc, gia cầm trong vườn chè, không bón vào đất các loại phân có nguy cơ ô nhiễm như: Phân chuồng tươi, nước thải trực tiếp của người và động vật, nước thải sinh hoạt và nước thải của các nhà máy.
 

4. Phân bón chất phụ gia

Hiện nay, để trồng chè có hiệu quả cao, đòi hỏi phải sử dụng phân bón trên tất cả các loại đất. Về nguyên tắc, toàn bộ chất dinh dưỡng đưa vào, kể cả các khoáng vật từ đất và chất hữu cơ, nên tương đương lượng chất dinh dưỡng mà cây đã lấy đi; cần tính toán cả lượng được tổng hợp từ rễ của cây trồng che phủ, hoặc trồng xen, lượng tồn tại trong cây chè. Để sử dụng hiệu quả, tiết kiệm phân bón cần phải giảm hao hụt dinh dưỡng trong các trường hợp: Dòng nước chảy cuốn đi khi mưa, khi tưới nước, sự bốc hơi nước và trong quá trình canh tác. Hết sức chú ý sự mất đạm (N03) và lân dễ tiêu trên bề mặt, quá trình lắng xuống và sự xói mòn đất.

Trong quá trình cân đối đạm (N), việc bón đạm dạng vi sinh, hoặc dưới dạng đạm hữu cơ cần phải chú ý ở mức cao nhất kết hợp bổ sung phân vi lượng, vì sẽ luôn làm tăng hiệu quả của việc sử dụng đạm, lân và kali cũng như các chất dinh dưỡng khác.

* Tỷ lệ đi và đưa vào:

- Muốn sử dụng dinh dưỡng có hiệu quả cao, đòi hỏi phải tính toán liều lượng và tỷ lệ phối hợp các nguyên tố NPK phù hợp với từng loại đất (đất có tầng canh tác dầy, đất dốc…) và khí hậu, thời tiết cụ thể của từng vùng.

- Trong thực tế không phải lúc nào cũng có thể phân tích được các yếu tố trong đất để tính toán phân bón cho cây chè. Do vậy, ánh sáng mặt trời chiếu vào lá chè, tạo ra màu sắc sẽ là chỉ thị giúp ta nhận biết sự thiếu hụt phân bón:

+ Lá màu xanh tối, to, dầy, búp mọng nước có thể là dấu hiệu lượng đạm sử dụng đã quá mức (thừa N)

+ Lá nhỏ, màu vàng nhạt, búp nhỏ, cứng có thể là dấu hiệu lượng đạm sử dụng chưa đủ (thiếu N)

Hiện nay, các vùng sản xuất chè thuộc các tỉnh phía Bắc mức bón phổ biến là 30kg N/tấn búp, duy trì tỷ lệ bón NPK (3:1:1), khoảng 150kg N/ha. Để cây chè sinh trưởng tốt nên điều chỉnh bón theo tỷ lệ 3:1:1 với lượng 30kg N/tấn búp tươi + MgSO4 + ZnSO4 với lượng 5kg/ha + phân hữu cơ vi sinh thúc 2.000kg/ha.

Ở một số vùng khác, như (Bảo Lộc, Lâm Đồng; Mộc Châu, Sơn La có thể áp dụng mức phân bón khác (lượng đạm có thể thấp hơn do vùng này đất có hàm lượng mùn cao hơn vùng khác).

Tuy nhiên, một số vùng do giá chè cao, một số hộ đã dùng lượng đạm vô cơ tới 60- 70kg N/tấn búp, bón không cân đối nên chất lượng chè giảm và sâu bệnh phát sinh mạnh.

Cần lưu ý:
- Tỷ lệ và liều lượng bón NPK, hoặc bón chất hữu cơ cần được xem xét lại một cách thường xuyên trên cơ sở phân tích để tính toán lượng chất dinh dưỡng còn lại trong đất, trong thân lá. Người trồng chè cần phải nhận được các thông số về dinh dưỡng và chất hữu cơ đối với sản xuất chè để có nhận thức đầy đủ về quản lý dinh dưỡng nương chè; chống lại quan điểm trồng trọt cũ là quảng canh, bóc lột đất hoặc bón phân theo kinh nghiệm.

 - Những thông số về chất hữu cơ có được do giữ lại cành lá chè đốn ở các kiểu đốn hay chu kỳ đốn, hoặc lượng lá rụng hay tỉa cành từ cây che bóng cần được thông báo cho người sản xuất để họ có thể điều chỉnh tỷ lệ bón NPK hợp lý vào các năm sau. Chẳng hạn, nếu áp dụng chu kỳ đốn 3 năm đối với chè kinh doanh, thì lượng bón lân và kali ở năm thứ hai và ba sau năm đốn đầu tiên ở chu kỳ đốn có thể sẽ giảm hơn những năm trước do lượng lân và kali đã được cung cấp đáng kể từ cành lá chè đốn.

- Không nên sử dụng tro (Sản phẩm sau khi đốt) của bất kỳ loại cây nào để bón cho chè, bởi tro là chất kiềm.

- Luôn chú ý tăng cường sử dụng chất hữu cơ, phân xanh, phân vi sinh và giảm sử dụng phân vô cơ.

- Nên sử dụng phân lân dạng rắn (loại trừ khu vực có độ pH cao) và đặc biệt quan trọng là bón lót cho chè trồng mới (thường sử dụng Supe lân 600kg/ha); phân lân dạng rắn sẽ cung cấp lượng phopho hòa tan dần dần cho cây chè.

- Tăng cường đưa đạm vào từ những loại sinh vật cố định đạm trồng xen canh các loại cây họ đậu khi chè ở thời kỳ kiến thiết cơ bản, hoặc những vùng trồng tiểu bậc thang.

- Không bón phân khoáng trong các tháng mùa khô và lúc trời mưa to, tránh bón phân trong vùng cách dòng sông hoặc mương nước 3- 4m.

- Hạn chế đến mức tối đa mất mát dinh dưỡng do cỏ dại và các cây trồng xung quanh đồi chè.

5. Tưới nước

Chỉ sử dụng nguồn nước tưới đã được xác định không bị ô nhiễm hóa chất và VSV; không sử dụng nước từ những vùng sản xuất công nghiệp, nước thải nhà máy, vì nó có thể đem lại các chất độc hại hoặc gây ô nhiễm.

Sử dụng nước bằng các phương pháp tiết kiệm, tránh lãng phí nước.

Chỉ nên áp dụng tưới ở những nơi mà ở đó có nguồn nước dư thừa, đầu tư cho tưới thấp và sản xuất chè có hiệu quả cao.
 

6. Bảo vệ thực vật và sử dụng hóa chất

Quản lý dịch hại (IPM) là chìa khóa để duy trì sự điều khiển dịch hại, mục đích là áp dụng các biện pháp canh tác, biện pháp sinh học, biện pháp cơ giới, biện pháp hóa học hoặc các kỹ thuật phòng trừ dịch hại khác để giảm tới mức thấp nhất việc sử dụng hóa chất diệt côn trùng.

Hiểu biết về sâu bệnh hại:
Ở mỗi vùng chè, người trồng chè cần phải nắm chắc điều kiện đất đai, khí hậu, bệnh nào thường xuyên phát sinh (vùng cao thường hay xuất hiện bệnh phồng lá; vùng trung du , vùng thấp thường hay xuất hiện bệnh đốm nâu, bệnh tóc đen…). Trong mọi trường hợp, đối với bệnh hại chè cần khuyến cáo người dân sử dụng biện pháp canh tác, hạn chế thấp nhất việc sử dụng thuốc hóa học.

Việc sử dụng các chất hóa học sẽ giết chết thiên địch tự nhiên của sâu hại chè (chủ yếu là các loại nhện săn mồi), từ đó dịch hại có điều kiện phát triển. Do đó thuốc hóa học thường chỉ sử dụng trong trường hợp không thể tránh (dịch bệnh bùng phát) và phải nằm trong một chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).

Yêu cầu chìa khóa của một hệ thống IPM bao gồm:

- Không sử dụng thuốc hóa học để phun phòng sâu bệnh

- Phòng trừ bằng những biện pháp canh tác (trồng trọt) thông thường, như trồng giống khỏe, chăm sóc tốt và duy trì việc trồng cây che bóng, cây trồng xen, duy trì độ che phủ đất

- Mở rộng việc tìm hiểu về diễn biến của các đối tượng gây hại chính, tìm hiểu về sự phát triển của thiên địch.

- Thiết lập các ngưỡng gây hại của các tác nhân gây hại chính (rầy xanh, nhện đỏ, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi), dựa vào mức thiệt hại kinh tế (rầy xanh 3-5 con non/khay; bọ xít cánh tơ 4 con/lá; nhện đỏ 3 con/lá; bọ xít muỗi bắt đầu thấy lác đác ở chòm lá có vết kim châm màu đen…)

- Trong trường hợp sử dụng thuốc hóa học, thì tính chọn lọc của thuốc là quan trọng để giảm bớt sự mất cân bằng sinh thái, an toàn sản phẩm và an toàn cho người…

- Sử dụng thuốc trừ dịch hại (thuốc BVTV):

+ Người sử dụng thuốc phải được huấn luyện về các nguyên tắc sử dụng (phun: đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ, liều lượng, đúng cách, đúng chỗ) và những thiết bị phun, quần áo bảo hộ…

+ Thuốc BVTV khi sử dụng cần được kiểm tra, giám sát chặt chẽ đúng với danh mục được phép sử dụng của Bộ NN&PTNT

+ Thuốc BVTV cần phải được chọn lọc cao dựa trên mức độ ảnh hưởng tới hệ sinh thái, mức độ an toàn sản phẩm, an toàn cho người lao động và môi trường

+ Cần phải nắm vững đặc điểm của thuốc, số lượng mua không nên vượt quá số lượng cần; không nên sử dụng thuốc đã quá hạn.

+ Thuốc cần được bảo quản, cất giữ cẩn thận, an toàn và đúng phương thức; bao gói phải có hướng dẫn cụ thể, đưa ra những trường hợp cấm sử dụng và cách xử lý khi có sự cố xẩy ra; định nghĩa rõ ràng và có hiệu lực đối với từng loại thuốc.

+ Dụng cụ bơm thuốc phải được bảo quản cẩn thận, tránh gây ô nhiễm.

+ Dụng cụ cá nhân phải được rửa sạch sau khi dùng; tất cả quần áo và thiết bị sử dụng phải được rửa sạch ở một vị trí phù hợp

+ Phải có thói quen kiểm tra sức khỏe cho người lao động và có biện pháp sơ cứu tại chỗ khi bị thuốc xâm nhập.

Một chương trình IPM phải đạt được yêu cầu:
Đảm bảo cho sản phẩm chè vừa được an toàn, vừa có chất lượng, bảo vệ được thiên địch, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Muốn vậy, chương trình IPM phải được triển khai nghiêm túc, trong đó có các biện pháp:

- Đốn đúng thời vụ;

- Hái đúng kỹ thuật;

- Bón phân hợp lý (sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, phân hữu cơ sinh học, phân có nguồn gốc hữu cơ kết hợp với tủ gốc và tưới nước);

Điều tra định kỳ để sớm xác định được đối tượng sâu hại, thời điểm trừ sâu có hiệu quả và điều quan trọng hơn là khi mật độ sâu chưa đến mức phun thuốc thì không sử dụng thuốc hóa học mà chỉ nên sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo mộc (hiện nay có một số thuốc thảo mộc mới trừ sâu rất có hiệu quả như SH01, Sukupi…). Khi bùng phát dịch hại nên phun thuốc hóa học trong danh mục cho phép của Bộ NN&TPNN (Nhện đỏ dùng Comite; Rầy xanh dùng Actara, Acelant,…; Cánh tơ dùng Agbamex, Confido…). Nên sử dụng máy động cơ phun dung dịch thuốc hóa học (600- 1000 lít/ha) với chè sản xuất kinh doanh; bảo đảm thời gian cách ly sau phun tối thiểu là 10 ngày; một năm phun thuốc hóa học không quá 6 lần và tuyệt đối tuân theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật.

Phòng trừ cỏ dại:
- Đặc biệt chú trọng biện pháp tủ gốc, hoặc trồng cây phủ đất để khống chế cỏ dại

- Làm cỏ bằng các thiết bị máy móc

- Việc nhổ cỏ bằng tay cần có cách thích hợp để cố gắng không sử dụng thuốc diệt cỏ (trường hợp phải sử dụng thuốc diệt cỏ thì cần lưu ý đến an toàn về sinh thái học, sức khỏe con người và môi trường; các loại thuốc diệt cỏ khi sử dụng cần phải giảm đến mức tối thiểu chất hóa học giải phóng ra và tồn đọng trong đất).

7. Thu hoạch và quản lý sau thu hoạch

Áp dụng kỹ thuật hái theo khống chế chiều cao vết hái của vụ chè xuân 10cm (vụ chè hái đầu tiên trong năm chỉ hái những búp có chiều cao trên 10cm tính từ vết đốn) những lần hái sau phẩm cấp theo yêu cầu chế biến các sản phẩm chè.

Khi thu hái chè (bằng tay hoặc bằng máy) nên đựng trong các giỏ hoặc sọt chắc, nhẹ, không có mùi lạ.

Chè bỏ vào sọt không được lèn chặt, tránh dập nát

Chè tươi khi thu hái phải được đưa ngay về nơi chế biến (chậm nhất không quá 8 giờ)

Chè đưa về xưởng phải được xác định hàm lượng nước và phân thành các loại A,B,C,D theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1053- 86) để dễ bảo quản

Chè chờ chế biến cần được rũ tơi, rải đều trên nền sạch, nhẵn, độ dày rải chè không quá 20cm, cách tường 20cm.

Nên rải riêng từng loại chè A,B và C,D, giữa có khoảng trống làm lối đi lại, tránh giẫm đạp lên chè

Phòng bảo quản phải thoáng, mát, không bị mưa nắng hắt vào. Sau 2- 3 giờ bảo quản, dùng sào tre hoặc tay rũ chè một lần, không dùng cào sắt để tránh làm dập nát chè. Chè vào dây chuyền sản xuất phải cân đối, nhịp nhàng, không để ùn đống ở đầu dây chuyền Chè phải được chế biến với quy trình công nghệ và thiết bị đạt trình độ tiên tiến và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

8. Quản lý và xử lý chất thải

Cần có quy hoạch thật cụ thể địa điểm xử lý chất thải trong vùng chè, đảm bảo an toàn cho người và môi trường.

Toàn bộ bao gói phân bón, thuốc BVTV và các sản phẩm khác sau khi sử dụng phải được thu gom lại, không vứt bừa bãi trên nương chè. Các sản phẩm thu gom nên phân làm 2 loại; loại tái sinh được nên đưa về nơi cha để có thể tiếp tục tái chế, loại còn lại cần có giải pháp chôn lấp, hoặc tiêu hủy an toàn.
 
                                                                     Theo: TS. Nguyễn Hữu Phong
                                                                          Trung tâm NC&PT Chè
                                                     Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc


Tags
Tiêu điểm
Top