Sản xuất giống khoai tây sạch bệnh ở Việt Nam và một số nước tiên tiến


Khoai tây thuộc nhóm thực phẩm cao cấp, hàm lượng chất dinh dưỡng trong củ khoai tây rất phong phú và đa dạng bao gồm tinh bột, protein, gluxit, vitamin và khoáng.

Đây là những yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người. Ngoài việc sử dụng khoai tây làm thực phẩm thông thường như nấu, nướng khoai tây còn được chế biến thành nhiều dạng sản phẩm, bán thành phẩm có giá trị như khoai tây chiên, snack khoai tây.  Trước khi thảo luận về giống khoai tây sạch bệnh ở Việt Nam, có thể liên hệ tới những phương pháp chung nhất về sản xuất giống khoai tây ở một số nước trồng khoai tây.



Ở Ban Lan và Hungari, các nhà chọn tạo giống ở các Viện nghiên cứu quốc gia chịu trách nhiệm về sản xuất giống tiền gốc (prebasic seed). Ở Hungari 100% các vật liệu khởi đầu là từ nhân giống in vitro. Ở Ba Lan gần 100% các vật liệu khởi đầu là từ nhân giống in vitro.

Ở tất cả các nước khác thuộc Châu Âu, việc sản xuất giống tiền gốc đều được tư nhân hoá. Ở Scotland, các củ nhỏ đã được xác định là sạch bệnh được cung cấp do người sản xuất giống tiền gốc có đăng ký. Giống có thể được trồng trên đồng ruộng hoặc sản xuất ra các củ nhỏ mới ở trong nhà lưới.

Ở Denmarks, các vật liệu in vitro do các phòng thí nghiệm được giao nhiệm vụ sản xuất, các vật liệu này do những người sản xuất được chọn lọc tiến hành trồng trọt.

Ở Pháp, Liên đoàn những người trồng khoai tây chịu trách nhiệm sản xuất các vật liệu in vitro.

Ở Đức, các nhà chọn tạo giống chịu trách nhiệm về sản xuất giống tiền gốc với mức độ 95% từ in vitro.

Ở Hà Lan, việc sử dụng các vật liệu in vitro đang tăng lên một cách vững chắc, nhưng phần lớn (60%) các giống gốc được sản xuất bằng phương pháp truyền thống. Trên thực tế, dùng phương pháp truyền thống chọn tạo một cây mẹ khoẻ mạnh (sạch bệnh), tiếp theo là cách ly và nhân giống qua một số năm vẫn cho các kết quả tốt. Hơn nữa, nhân giống in vitro đã cho thấy không phải là không có rủi ro về tính đúng giống và độ thuần của giống. Các đột biến và những sai sót về tính đúng giống đã gây ra những thất bại nghiêm trọng và những trở ngại cho việc lập kế hoạch nhân giống.

Mỗi một nước có hệ thống thế hệ (đời) nhân giống riêng của mình bao gồm một số thế hệ nhân giống tiền gốc, tiếp theo là nhân giống gốc và giống xác nhận. Số thế hệ nhân giống tối đa thay đổi tuỳ theo nước, từ 11 ở Denmark đến 7 ở Đức và Hungari, 9 ở Pháp, Hà Lan và Ba Lan, 10 ở Liên Hiệp Anh (UK). Trên thực tế, mỗi một hệ thống đều giảm bớt đi từ 2 - 3 đời. Lý do chính là vì, cứ mỗi đời tỷ lệ bệnh virus lại tăng lên, cho nên mỗi hệ thống đều làm giảm số lượng đời nhân giống.

Ở Hà Lan, những người sản xuất giống có khả năng tự sản xuất tất cả các đời (generations).

Gần đây, phương pháp "thuỷ canh" (hydroponics) ngày càng được chú ý nhiều hơn. Kỹ thuật thuỷ canh bao gồm sản xuất củ ở trong nhà lưới bằng trồng cây trong dung dịch, tương tự như những dung dịch được dùng trong các phương tiện sản xuất ở nhà lưới đối với cà chua với kỹ thuật thu hoạch nhiều lần. Với kỹ thuật mới này, khi được thiết lập, một số lớn các củ sạch bệnh trên một củ có thể sản xuất với giá có thể chấp nhận được.

Ở Hàn Quốc, công nghệ sản xuất giống khoai tây sạch bệnh đã phát triển ở trình độ cao. Giống khoai tây sạch bệnh chủ yếu được sản xuất từ in vitro (in vitro microtubers) và công nghệ thuỷ canh (hydroponics). Tuy vậy, cho tới năm 2001, diện tích sản xuất khoai tây bằng nguồn giống khoai tây sạch bệnh chiếm khoảng 50% tổng diện tích sản xuất khoai tây ở Hàn Quốc.

Tình hình sản xuất giống khoai tây sạch bệnh ở Việt Nam

Như đã trình bày ở trên, cho đến nay, Việt nam chưa có hệ thống sản xuất, xác nhận giống và cung ứng giống khoai tây hoàn chỉnh. Tuy nhiên, nhiều cơ quan nhà nước như Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, Viện Cây lương thực và CTP, Trường ĐHNN I, Công ty Giống cây trồng Trung ương I, Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống Cây trồng Trung ương đã và đang nỗ lực sản xuất ra ngày càng nhiều giống khoai tây sạch bệnh. Một số tổ chức xã hội và các đơn vị thuộc thành phần kinh tế tư nhân cũng đã và đang có nhiều đóng góp cho sản xuất giống khoai tây sạch bệnh. Một số giống khoai tây mới như KT3 và VC 38-6, với tiềm năng năng suất cao, khả năng chống chịu bệnh tốt, tốc độ thoái hoá chậm đang được phát triển mạnh.

Công nghệ bảo quản khoai tây giống bằng kho lạnh đã và đang góp phần to lớn vào việc xây dựng hệ thống sản xuất, bảo quản, xác nhận và cung ứng khoai tây giống sạch bệnh ở Việt Nam.

Về xác nhận giống, gần đây, Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống Cây trồng Trung ương đã soạn thảo và đề nghị Bộ NN & PTNT ban hành văn bản qui phạm về hệ thống tiêu chuẩn giống khoai tây của Việt Nam để làm cơ sở cho việc sản xuất, kiểm định và xác nhận chất lượng giống khoai tây.

Nhiều cơ quan khoa học đã có các cơ sở vật chất như các phòng nuôi cấy in vitro, các phòng kiểm tra bệnh, hệ thống nhà lưới. Tuy nhiên, so với yêu cầu, các cơ sở vật chất nói trên vẫn còn thiếu rất nhiều.

Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, Viện cây lương thực và CTP, Trường ĐHNN I Hà Nội, Công ty Giống cây trồng TW I hiện đang là những cơ quan chủ yếu trong hệ thống sản xuất giống khoai tây sạch bệnh. Về nguồn lực, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và tư nhân đã có năng lực ở mức độ nhất định để đẩy mạnh sản xuất, xác nhận và cung ứng giống sạch bệnh.

Về địa điểm nhân giống Việt Nam, các kết quả trong nghiên cứu sản xuất giống khoai tây sạch bệnh trong hơn 10 năm qua đã cho thấy, sản xuất giống khoai tây sạch bệnh bằng nuôi cấy in vitro và bán in vitro ở các vùng có độ cao khoảng 1500 m so với mặt nước biển (Đà Lạt, Sapa) là có rất nhiều thuận lợi. Về nguyên lý, do nhiệt độ không khí mát mẻ quanh năm, trung bình khoảng 15 - 25oC, rất thích hợp cho cây khoai tây, tiết kiệm được chi phí điện năng dùng cho các phòng thí nghiệm nuôi cấy mô và nhà lưới. Ở các vùng cao này, sản xuất giống khoai tây bằng phương pháp in vitro, bán in vitro và thuỷ canh (hydroponics) là rất thuận lợi và có thể làm được liên tục nhiều vụ trong một năm.

Các kết quả nghiên cứu trong những năm qua đã cho thấy rõ, các củ nhỏ (mini tubers) sạch bệnh được sản xuất từ in vitro, bán in vitro và thuỷ canh (hydroponics culture) có thể được trồng trên đồng ruộng cách ly ở độ cao từ 1000 m trở lên thích hợp nhất. Ở các vùng cao phía Bắc, đặc biệt để tránh mối đục củ và bệnh héo xanh, ruộng nhân giống cách ly ở các độ cao nói trên phải là ruộng lúa nước một vụ, với thời vụ thích hợp nhất cho việc nhân giống khoai tây là vụ Xuân - Hè (trồng từ tháng 2 đến tháng 3, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 6). Như vậy, củ giống thu hoạch ở vùng cao trong vụ Xuân Hè có tuổi sinh lý trẻ hơn củ giống cùng loại trồng ở vụ Đông (thu hoạch tháng 1) và vụ Xuân (thu hoạch tháng 3) ở ĐB Sồng Hồng từ tháng 3 - 4.

Thuận lợi cơ bản nữa là, tại đồng ruộng cách ly ở các vùng cao có độ cao từ 1000m trở lên, mật độ rệp hại (đặc biệt là rệp đào, Myzus persicea), tác nhân chủ yếu truyền bệnh virus, là rất thấp so với ở đồng bằng. Do đó, củ giống cùng loại sản xuất ở vùng cao thường có độ sạch bệnh cao hơn ở đồng bằng. Như vậy, tốc độ thoái hoá giống khoai tây ở vùng cao thấp hơn nhiều so với ở đồng bằng.

Củ giống sản xuất ở vùng cao có độ tuổi sinh lý trẻ hơn và độ sạch bệnh cao hơn đảm bảo có thể nhân giống ở vùng cao được nhiều thế hệ và năng suất cao hơn hẳn đối với giống cùng loại và cùng thế hệ sản xuất ở đồng bằng.
 
Hoài Nam (Nguồn: Cục trồng trọt)


Tags
Tiêu điểm
Top
Bình chọn Quả Cầu Vàng [X]