Một số chú ý về kỹ thuật nuôi cá lồng trên các thủy vực nước mặn, lợ

Thứ tư, 22/08/2018

Lồng, bè phải được đặt trong khu vực có nguồn nước sạch
1. Lựa chọn địa điểm nuôi
- Điểm nuôi phải nằm trong vùng được cho phép nuôi cá lồng.
- Lồng, bè phải được đặt trong khu vực có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm nước thải sanh hoạt, chất thải công nghiệp, có chất lượng nước phù hợp với đối tượng thủy sản nuôi.
- Nơi đặt lồng, bè phải thông thoáng, có dòng chảy thẳng và liên tục; tránh nơi tập trung đông dân cư và tàu thuyền qua lại nhiều, nơi gần bến cảng, nơi có sóng và gió lớn, nơi có nhiều rong và cây cỏ thủy sinh; không nên nuôi tại các điểm cuối của eo, ngách.
- Nơi đặt lồng, bè phải có độ sâu ít nhất là 4m khi thủy triều xuống thấp nhất; lồng phải đặt cách đáy sông từ 0,5- 1m.
- Cần tránh đặt lồng nơi nước chảy quá yếu hay nước đứng dễ dẫn đến tình trạng cá yếu dần và chết do thiếu ôxy. Tốc độ dòng chảy thích hợp là từ 0,2- 0,6m/giây.
- Chất lượng nước nuôi phải đảm bảo các yêu cầu sau: Độ trong bằng, hoặc nhỏ hơn 30cm; pH 6,5- 8,0; ôxy hòa tan > 5mg/lít; NH3 0,93- 1,94mg/lít; độ mặn thích hợp cho từng đối tượng nuôi cụ thể nhưng phải thấp hơn 33%o.
- Lồng, bè phải làm bằng các vật liệu chắc chắn, bền, có khả năng chống chịu tốt với môi trường nước, sóng, gió, chất khử trùng tiêu độc; có thiết kế dễ làm vệ sinh, khử trùng, dễ di dời, lắp đặt.
- Mật độ lồng nuôi không quá dày; các cụm lồng đặt cách nhau 20- 30m và đặt so le để nước dễ lưu thông.
 

2. Chọn giống và thả giống
* Chọn giống:
Chọn đối tượng nuôi phải phù hợp với điều kiện của từng vùng nuôi. Các đối tượng nuôi lồng trên biển, sông: Cá chẽm, cá mú, cá hồng mỹ, cá hanh, cá giò, cá tráp, cá hồng bạc… Nên chọn nuôi những đối tượng có giá trị kinh tế cao. Cá giống phải khỏe mạnh, không dị hình, dị tật, không bị sây sát, kích cỡ đồng đều, không bị mất nhớt. Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn. Tùy thuộc vào từng đối tượng nuôi, cỡ cá giống thường từ 10- 12cm. Cá giống được ương nuôi trong ao cho đến khi đạt kích thước trên mới đem thả. Cần phân cỡ cá và thả từng lồng riêng; không thả cá to, nhỏ khác nhau trong cùng một lồng dễ xẩy ra tình trạng cá lớn ăn cá bé, hoặc cá lớn tranh hết mồi của cá bé, dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao.

* Thả giống:
Tùy thuộc vào vị trí đặt lồng và tình hình sinh thái thủy vực, từng đối tượng nuôi và điều kiện chăm sóc, quản lý để thả nuôi với mật độ phù hợp. Mật độ nuôi cá lồng mặn, lợ thường từ 15- 25con/m3.
- Mùa vụ thả giống: Vào tháng 4 hàng năm.
- Xử lý cá giống trước khi thả nuôi:
Trước khi thả cá cần phải tắm cho cá bằng fomol nồng độ 100ml/m3 trong khoảng thời gian 1 giờ có sục khí, hoặc tắm qua nước ngọt 10- 15 phút để tiêu diệt các tác nhân gây bệnh ngoại ký sinh. Nên thả cá lúc sáng sớm, hoặc chiều mát là tốt nhất.
- Khi thả cá, cần cân bằng môi trường bằng cách ngâm bao chứa cá vào lồng nuôi khoảng 10- 15 phút, sau đó cho nước từ từ vào miệng túi và tiến hành thả cá.

3. Chăm sóc và quản lý
Thức ăn và cách cho ăn
- Thức ăn cho cá chủ yếu là cá tạp (cá muối, cá cơm, cá trích, cá liệt…), cá phải tươi, lựa bỏ tạp chất, loại bỏ ký sinh trùng bằng cách ngâm trong nước ngọt trước khi cho ăn để tránh gây bệnh cho cá.
- Thức ăn được rửa sạch, cắt thành khúc phù hợp với miệng cá; cho ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm (7- 8 giờ) và chiều mát (4- 5 giờ). Cần rải mồi chậm để cá dễ dàng bắt; cho ăn từ từ đến khi cá ngừng ăn thì dừng lại, tránh để thức ăn rơi xuống đáy lồng. Lượng cho ăn tùy thuộc vào trọng lượng cá, cá nhỏ thì lượng thức ăn bằng 10% trọng lượng thân, cá lớn bằng từ 3- 5% trọng lượng thân.
- Cho ăn vừa đủ, không quá thừa cũng như không quá thiếu. Định kỳ 10 ngày sử dụng vitamin C và khoáng trộn vào thức ăn cho ăn liên tục từ 5- 7 ngày, để tăng khả năng bắt mồi và sức đề kháng cho cá.
- Thức ăn phải đảm bảo tươi, không cho cá ăn thức ăn ôi thiu, ẩm mốc.
- Trong quá trình nuôi cần theo dõi tốc độ bắt mồi, theo dõi mức tiêu thụ thức ăn và tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
- Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp cho cá.

* Quản lý lồng và môi trường nuôi
- Thường xuyên cọ rửa lưới, khung lồng và định kỳ 1- 2 tháng thay lưới một lần để loại bỏ các sinh vật biển bám và phá hoại lồng nuôi như: Hàu, vẹm, thủy tức, rong biển… nhằm lưu thông dòng chảy, cung cấp đủ ôxy, hạn chế mầm bệnh ký sinh và không làm sây sát cá.
- Thường xuyên theo dõi lồng nuôi (đặc biệt là đáy lồng) đề phòng lồng bị hư hỏng.
- Định kỳ phân cỡ cá nuôi và điều chỉnh mật độ nuôi thích hợp, theo dõi phát hiện bệnh kịp thời để có biện pháp xử lý.
- Khi môi trường thay đổi xấu, như nước phát sáng, nhiều cặn bã, sinh vật lạ xuất hiện hay cá xung quanh bị nhiễm bệnh nên tiến hành treo túi thuốc tím trong lồng để phòng bệnh cho cá.
- Hàng ngày quan sát hoạt động của cá trong các lồng nuôi, tình hình sử dụng thức ăn và các hiện tượng bất thường khác xẩy ra.
- Trước khi cho cá ăn cần kéo lồng lên, vớt hết các loại thức ăn thừa của cá.
- Vào mùa mưa, lũ phải kiểm tra các dây neo lồng, di chuyển lồng vào vị trí an toàn để tranh bão, lũ.

4. Phòng và trị bệnh
Thực hiện nguyên tắc phòng bệnh là chính
- Lựa chọn con giống khỏe mạnh, thả nuôi với mật độ thích hợp
- Không làm cá bị sây sát, hay trầy xước do đánh bắt
- Không cho cá ăn thức ăn ôi thiu, ẩm mốc
- Bổ sung Vitamin C vào thức ăn nhằm tăng thêm sức đề kháng của cá
- Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, vệ sinh lồng thường xuyên và bảo vệ môi trường xung quanh
- Cần cách ly những lồng bị bệnh bằng cách kéo lồng xuống vị trí cuối dòng nước chảy và kịp thời trị bệnh cho cá. Khi thấy có khả năng bệnh lây lan cần tiến hành thu hoạch ngay nếu cá đã đạt kích cỡ thương phẩm.

5. Thu hoạch
Sau thời gian nuôi 9- 10 tháng, trọng lượng cá đạt trung bình từ 0,8- 1kg/con thì tiến hành thu hoạch. Có thể thu tỉa hoặc thu toàn bộ một lần, cần thao tác nhẹ nhàng, tránh làm cá bị sây sước. Tùy vào thị trường mà có thể thu tỉa khi cá đạt kích cỡ 0,6- 0,8kg/con.
Trước khi thu hoạch, giảm cho cá ăn từ 2- 3 ngày và ngừng cho ăn để thu cá.
 
ĐH (Theo nhóm tri thức Việt)

Tags

Bình luận


Tiêu điểm

Video nổi bật

×