Kỹ thuật nuôi trâu đạt hiệu quả cao

Thứ sáu, 09/06/2017

Kỹ thuật nuôi trâu đạt hiệu quả cao
I. Chuồng trại:
Yêu cầu vị trí xây dựng: Chuồng nuôi phải đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, xây dựng nơi cao ráo, khung chuồng và nền phải chắc chắn, mái lợp đảm bảo. Chuồng nuôi phải cách xa nhà ở và khu dân cư, cách xa nguồn nước sinh hoạt và có nơi thu gom phân chuồng, có hố chứa nước thải.
 

Chuồng trâu phải cách xa nhà ở và khu dân cư
 
- Mái chuồng: Cao vừa phải tránh gió lùa, có độ dốc 65 đến 70 % để thoát nước và chìa ra khỏi tường để bảo vệ tường vách khỏi ẩm ướt. Có thể sử dụng nguyên liệu là ngói, nứa, tấm lợp... để lợp.
- Tường chuồng: Cần có đủ độ dày để chống mưa bão, rét lạnh. Tường xây gạch hoặc đất sét nện chặt. Có thể sử dụng phên nứa che chắn gió giữ ấm về mùa đông, mát về mùa hè, có cửa sổ hướng đông hoặc nam.
- Cửa chuồng: Cửa ra vào phải rộng hơn thân bò, để bò dễ đi lại và tránh cọ sát vào cửa.
- Nền chuồngNền chuồng phải cao hơn mặt đất bên ngoài 20-30cm, có thể sử dụng nền láng xi măng hoặc nền đất nện. Với nền chuồng bằng xi măng cần phải đảm bảo chắc chắn và có độ nhám thích hợp, tránh làm quá trơn trâu sẽ khó đi lại và dễ bị té ngã. Nền chuồng phải có độ dốc hợp lý khoảng 2 - 3% hướng về rãnh thoát nước.
- Máng ăn: Chiều dài 80 cm, rộng 50 cm, sâu 40 cm lòng máng bên trong 34 đến 40 cm (có thể sử dụng ván ghép hoặc xây tuỳ theo điều kiện từng hộ).
- Máng uống: Chiều dài 50 cm, rộng 40 cm, sâu 25 cm, có lỗ thoát nước.
- Rãnh thoát nước phân, nước tiểu: Rãnh làm theo chiều dài của chuồng, chiều rộng của rãnh vừa đủ lọt xẻng: Rộng 25 cm, sâu 10 cm.
- Hố phân: Xây chìm dưới mặt đất, lát gạch, trát xi măng, làm ở phía sau chuồng. Hố đảm bảo chứa được 1/2 lượng phân 1 bò/năm (1,2m3/con).
- Sân chơi: Cần có sân chơi để cho bò vận động và tắm nắng, mỗi ngày ít nhất từ 1 đến 2 giờ. Xung quanh chuồng nuôi cần có cây xanh bóng mát, đường đi lại của sân chơi đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ. Nếu có điều kiện thì sử dụng một đồi cây gần chuồng để làm sân chơi càng tốt. 
 

Cần lựa chọn những con đực, con cái giống tốt để ghép đôi giao phối
 
II. Kỹ thuật chọn trâu giống
 Ở nước ta, công tác giống vật nuôi, trong đó có công tác giống trâu chưa được quan tâm đúng mức. Trong tình hình hiện nay, công tác giống trâu cần tập trung chọn lọc để bồi dục và nuôi thuần chủng những con giống tốt, nhằm nâng cao khối lượng, khả năng cho thịt và khả năng cày kéo.

*Cách chọn trâu đực giống:
Trâu đực giống tốt có tác dụng rất lớn để cải tạo đàn, bởi vì một con đực có thể phối cho 20-30 con trâu cái.
Trâu đực giống tốt là những con có ngoại hình cân đối, tầm vóc và khối lượng lớn, trông vạm vỡ, khoẻ mạnh, tính chất nhanh nhẹn, hăng hái. Đầu và cổ to, rắn chắc. Ngực sâu và nở nang. Vai rộng, lưng thẳng và dài. Bụng thon gọn, không xệ, mông dài, rộng, săn chắc. Bốn chân to, khoẻ, đi không chụm khoeo hay chữ bát. Móng chân khít. Bộ phận sinh dục phát triển, cân đối, dịch hoàn cân đối, mềm mại, nhưng không quá sa xuống (sa xuống là do dây chằng dịch hoàn yếu → con vật có sức khoẻ yếu).
Các tiêu chuẩn chọn như trên mang tính thực tiễn và phù hợp với điều kiện chăn nuôi gia đình. Thực chất, trong chọn giống còn cần quan tâm đến các chiều đo, số lượng và chất lượng tinh dịch, khả năng phối giống thụ thai cho đàn cái. Ngoài ra còn phải xem xét đến tiêu chuẩn năng suất, chất lượng của đời sau.

*Cách chọn trâu cái:
Yêu cầu đầu tiên cũng phải to, khoẻ, vì thường mẹ to đẻ con to. Cụ thể đối với giống trâu miền núi, cần chọn những con cái có khối lượng trên 400 kg, trâu vùng đồng bằng trên 300 kg.
Trâu cái phải khoẻ mạnh, các bộ phận trên mình cân đối, đặc biệt là phần mông, khung chậu và bầu vú phát triển tốt. Đầu và cổ phải thanh, nhẹ, cân đối. Ngực nở nang và sâu, rộng. Lưng dài, rộng. Bụng to và tròn. Bầu vú phát triển, bốn núm vú phân bố đều đặn. Bốn chân vững chắc, không đi vòng kiềng.
 
III. Quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng
1. Chăm sóc nuôi dưỡng trâu đực giống
1.1  Chế độ và tiêu chuẩn ăn.
Phải có chế độ nuôi dưỡng trâu đực giống hợp lý: Thức ăn phải đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt chú ý bổ sung thức ăn giàu đạm, canxi, phốt pho. Khi cân đối khẩu phần ăn cho trâu đực giống cần sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau, ưu tiên sử dụng các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, để giữ dạng hình thon bụng của đực giống. Trâu đực giống chăn nuôi theo phương thức chăn thả phải chú ý tùy điều kiện của bãi chăn để xác định lượng cỏ trâu đã ăn ở bãi để cân đối cho ăn thêm cỏ, thức ăn tinh cho đủ nhu cầu.
Khẩu phần ăn cho trâu đực giống từng thời kỳ

1.2. Kỹ thuật cho ăn.
Không cho trâu đực giống ăn no hết khẩu phần trong một bữa mà phải chia thức ăn cho ăn 2 đến 3 bữa/ngày, cho ăn thức ăn thô xanh trước, thức ăn tinh sau.
Cho trâu đực giống uống nước sạch tự do theo nhu cầu.

1.3. Chế độ vận động.
Thực hiện chế độ vận động bắt buộc hàng ngày: Cho làm việc nhẹ (kéo xe, cày, bừa đất nhẹ…) thời gian làm việc khoảng 2 - 3 giờ/ngày hoặc đuổi đi chăn thả ở các bãi chăn thả xa nhà từ 1 km đến 1,5 km. Trong quá trình dồn đuổi đực giống đến bãi chăn thả, nên dồn đực giống đi nhanh, không nên để đực giống đi lại la cà, ăn cỏ dọc đường sẽ làm giảm tác dụng vận động.

1.4. Chế độ phối giống.
Tuổi bắt đầu cho trâu đực phối giống từ 3 năm tuổi trở lên và thời gian sử dụng đực giống không quá 6 năm.
Chế độ sử dụng: Cho trâu đực phối giống không quá 3 lần/tuần. Tỷ lệ ghép phối thích hợp: 1 trâu đực/20 trâu cái.

2. Chăm sóc trâu cái sinh sản
2.1. Phát hiện động dục, phối giống
2.1.1. Phát hiện động dục.
Tuổi động dục lần đầu của trâu là 24 tháng, tuổi phối giống lần đầu của trâu cái từ 30 đến 36 tháng.
Khi con cái động dục thường có biểu hiện: Kêu, giống, đi lại bồn chồn, phá chuồng, kém ăn hoặc bỏ ăn, con vật hưng phấn cao độ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng, âm hộ sưng và ẩm ướt, niêm mạc đường sinh dục xung huyết và không dính. Từ cổ tử cung chảy ra dịch trong suốt và dẻo. Lông ở phần mông xù lên.

2.1.2. Phối giống.
Phương pháp xác định đơn giản nhất trong thực tế để xác định thời điểm phối giống là sử dụng quy tắc “sáng - chiều”. Buổi sáng phát hiện động dục thì chiều cho phối lần 1 và sáng hôm sau cho phối lần 2; buổi chiều phát hiện động dục thì sáng hôm sau cho phối lần 1 và chiều cho phối lần 2.
Đối với những con động dục ngầm rất khó phát hiện, vì thế trâu cái hậu bị trên 24 tháng và trâu cái sau khi đẻ 2 đến 3 tháng, khi đi chăn cần chăn chung bãi với trâu đực giống để tạo điều kiện cho trâu đực tự phát hiện trâu cái động dục và phối giống.

2.2. Chăm sóc và nuôi dưỡng trâu cái thời kỳ mang thai
Thời gian có chửa của trâu cái là 315 đến 330 ngày (10,5 đến 11 tháng).
Dựa vào sự phát triển của bào thai người ta chia làm 2 giai đoạn nuôi dưỡng và chăm sóc trâu cái mang thai.
- Giai đoạn 1 (Từ lúc bắt đầu chửa đến tháng thứ 8). Giai đoạn này bào thai phát triển và hoàn thiện các cơ quan chức năng. Sinh trưởng và tích lũy trong giai đoạn này thấp, các chất dinh dưỡng được sử dụng mạnh, khả năng đồng hóa của trâu mẹ tốt. Do vậy cấu trúc khẩu phần ở giai đoạn này có thể sử dụng nhiều thức ăn thô xanh. Tuy nhiên cần đảm bảo cân đối về chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng và vitamin.
- Giai đoạn 2 (Từ tháng thứ 9 đến khi đẻ)
Giai đoạn này thai sinh trưởng nhanh, chèn ép xoang bụng. Do vậy ngoài việc tăng nhu cầu dinh dưỡng thì cấu trúc khẩu phần ăn cũng cần phải thay đổi cho phù hợp. Lựa chọn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hoá, dung tích nhỏ, giảm thức ăn thô xanh, tăng thức ăn tinh, tránh thức ăn kém phẩm chất. Ngừng cho ăn urê, thức ăn xanh ủ chua trước khi đẻ 10 đến 15 ngày. Tránh những tác động kích thích bất thường gây Stress, dẫn đến sảy thai.
Khối lượng thức ăn xanh hàng ngày cho 1 trâu bằng khoảng 13 % đến 15 % khối lượng cơ thể. Nếu chăn thả đáp ứng được khoảng 50 % đến 70 % lượng thức ăn cần thiết, lượng còn lại cần được bổ sung cho ăn tại chuồng.

2.3. Chăm sóc trâu cái trước và sau khi đẻ
 Trước khi trâu cái đẻ từ 15 đến 20 ngày không nhốt chung với trâu đực, trâu khoẻ, không nhốt ở chuồng dốc, trơn trượt, không chăn thả ở nơi quá dốc, cho nghỉ ngơi hoàn toàn, tắm mát hàng ngày, mùa đông phải chú ý che chuồng chống rét cho trâu.
Sau khi đẻ xong cần cho trâu mẹ ăn cháo loãng ấm có pha 30 đến 40 gam muối. Theo dõi tình trạng sức khoẻ, thân nhiệt. Nếu bình thường thì theo dõi sau 3 đến 5 ngày. Trời ấm có thể cho chăn thả ở bãi gần chuồng.

3. Thức ăn cho trâu
*Thức ăn thô:
Thức ăn thô là loại thức ăn cỏ khối lượng lớn nhưng hàm lượng chất dinh dưỡng trong 1 kg thức ăn nhỏ. Điều đó có nghĩa là gia súc phải tiêu thụ một số lượng lớn loại thức ăn này mới có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng. Hàm lượng chất xơ thô trong loại thức ăn này lớn hơn 18% (theo vật chất khô). Trong thức ăn thô người ta lại phân ra thành các nhóm nhỏ:
- Thức ăn xanh:
Bao gồm các loại cỏ xanh, thân lá cây còn xanh, kể cả một số loại rau xanh và vỏ của những quả nhiều nước... Đặc điểm của thức ăn thô xanh là chứa nhiều nước, dễ tiêu hoá, có tính ngon miệng và gia súc thích ăn. Thức ăn xanh có tỷ lệ cân đối giữa các chất dinh dưỡng, chứa nhiều vitamin và protein có chất lượng cao.
- Thức ăn ủ ướp:
Là loại thức ăn được tạo ra thông qua quá trình dự trữ các loại thức ăn thô xanh dưới hình thức ủ chua giúp làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn, do các chất khó tiêu trong thức ăn bị mềm ra hoặc chuyển sang dạng dễ tiêu.
- Cỏ khô:
Cỏ khô là loại thức ăn thô xanh đã được sấy khô hoặc phơi khô nhờ nắng mặt trời và được dự trữ dưới hình thức đánh đống hoặc đóng bánh, giá trị dinh dưỡng của cỏ khô thường thấp hơn giá trị dinh dưỡng của cỏ ủ chua.
- Rơm rạ:
Rơm lúa sau khi thu hoạch được phơi khô dự trữ là nguồn thức ăn thô cho trâu. Rơm lúa thường được sử dụng để tăng lượng chất khô, đảm bảo độ choán dạ dầy ; tăng lượng xơ trong khẩu phần, nhất là đối với những khẩu phần thiếu xơ. Rơm lúa có giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hoá thấp.
 
*Thức ăn tinh:
Là loại thức ăn có khối lượng nhỏ nhưng hàm lượng chất dinh dưỡng trong 1 kg thức ăn lớn. Hàm lượng chất xơ thấp hơn 18%. Nhóm thức ăn này bao gồm các loại hạt ngũ cốc và bột của chúng (ngô, mì, gạo...); bột và khô dầu đậu tương, lạc...; các loại hạt cây bộ đậu và các loại thức ăn tinh hỗn hợp được sản xuất công nghiệp.
Đặc điểm của thức ăn tinh là hàm lượng nước và xơ đều thấp; chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như đạm, chất bột đường, chất béo, các chất khoáng và vitamin; tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng khá cao.
 
*Thức ăn bổ sung:
Là loại thức ăn được thêm vào khẩu phần với số lượng nhỏ để cân bằng một số chất dinh dưỡng thiếu hụt như chất đạm, khoáng và vitamin. Trong số các loại thức ăn bổ sung, quan trọng nhất là urê và hỗn hợp khoáng.
 
IV. Phòng bệnh
- Định kỳ diệt ve, ghẻ, rận cho trâu, nghé.
- Đối với nghé 1 đến 2 tháng tuổi cần tẩy giun đũa (có thể dùng Levamisol hoặc các loại thuốc khác theo hướng dẫn của thú y.
- Đối với trâu tẩy sán lá gan 1 lần/năm (chú ý trâu mang thai không được tẩy). Ở những nơi thường xuyên nhiễm ký sinh trùng đường máu (Tiên mao trùng, Lê dạng trùng…) phải điều trị hoặc phòng định kỳ.
- Tiêm phòng: Định kỳ tiêm phòng các loại vắc xin phòng các bệnh truyền nhiễm theo qui định của cơ quan thú y vào vụ xuân hè (tháng 3 - 4) và vụ thu đông (tháng 9 - 10), kiểm tra thường xuyên để phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh truyền nhiễm theo quy định.
 
Thành Long (Tổng hợp)

Tags

Bình luận


Tiêu điểm

Video nổi bật

×